Nhà sản xuất

GlaxoSmithKline

Thành phần

Mỗi nhát xịt: Fluticason furoat (dạng siêu mịn) 27,5mcg.

Mô tả

Thuốc xịt mũi AVAMYS là hỗn dịch màu trắng, đồng nhất đựng trong chai thủy tinh màu hổ phách, được gắn với một bơm xịt định liều (50 microlit). Chai thuốc bên trong này được gắn chặt trong một dụng cụ bằng nhựa phần lớn là màu trắng ngà với cần đẩy bên cạnh có màu xanh dương và nắp đóng có nút chặn.

Dược lý

Cơ chế tác dụng
Fluticason furoat là một corticosteroid tổng hợp có 3 nguyên tử flour gắn vào khung steroid, có ái lực rất cao với thụ thể glucocorticoid và có tác dụng kháng viêm mạnh.
Dược động học
Hấp thu
Fluticason furoat được chuyển hóa bước đầu khá nhiều và được hấp thu không hoàn toàn ở gan và ruột dẫn đến nồng độ toàn thân không đáng kể. Khi dùng liều 110 microgram một lần mỗi ngày qua đường xịt mũi, nồng độ thuốc trong huyết tương đạt được dưới mức có thể định lượng được (dưới 10 picogram/mL). Sinh khả dụng tuyệt đối của fluticason furoat khi dùng 880 microgram ba lần mỗi ngày (tổng liều hàng ngày là 2640 microgram) là 0,50%.
Phân bố
Độ gắn kết với protein huyết tương của fluticason furoat lớn hơn 99%. Fluticason furoat được phân bố rộng rãi với thể tích phân bố ở trạng thái ổn định trung bình là 608 L.
Chuyển hóa
Fluticason furoat được thải trừ nhanh (độ thanh thải huyết tương toàn phần là 58,7 L/giờ) khỏi vòng tuần hoàn toàn thân chủ yếu do chuyển hóa qua gan thành chất chuyển hóa không có hoạt tính 17 beta-carboxylic (GW694301X) bởi cytochrom P450 enzym CYP3A4. Đường chuyển hóa chính là thủy phân nhóm chức năng S-fluoromethyl carbothioat để tạo thành chất chuyển hóa 17 beta-carboxylic acid. Các nghiên cứu in vivo không cho thấy bằng chứng về việc phân tách một phần phân tử furoat để tạo thành fluticason.
Thải trừ
Sự thải trừ chủ yếu qua phân sau khi dùng thuốc theo đường uống và đường tĩnh mạch cho thấy fluticason furoat và các chất chuyển hóa của nó bài tiết qua mật. Sau khi dùng thuốc qua đường tĩnh mạch, thời gian bán thải trung bình của thuốc là 15,1 giờ. Khoảng 1% liều thuốc dùng qua đường uống và 2% liều thuốc dùng qua đường tĩnh mạch được bài tiết qua nước tiểu.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người cao tuổi
Các dữ liệu về dược động học được cung cấp chỉ dựa vào một số ít bệnh nhân là người cao tuổi (n=23/872; 2,6%). Không có bằng chứng cho thấy tỉ lệ các đối tượng có nồng độ fluticason furoat có thể định lượng được ở nhóm người cao tuổi cao hơn so với nhóm đối tượng trẻ hơn.
Trẻ em
Fluticason furoat là một chất không thể định lượng được (quy ước khi nồng độ dưới 10 picogram/mL) sau khi xịt mũi ở liều 110 microgram một lần mỗi ngày. Các mức có thể định lượng được đã được quan sát thấy ở dưới 16% số bệnh nhi sau khi dùng thuốc xịt mũi ở liều 110 microgram một lần mỗi ngày và chỉ dưới 7% số bệnh nhi sau khi dùng liều 55 microgram một lần mỗi ngày. Không có bằng chứng cho thấy mức fluticason furoat có thể định lượng được với tỉ lệ cao hơn ở trẻ nhỏ hơn (dưới 6 tuổi).
Suy thận
Không phát hiện được fluticason furoat trong nước tiểu của những người tình nguyện khỏe mạnh sau khi dùng thuốc qua đường xịt mũi. Dưới 1% thành phần hoạt chất được bài tiết qua nước tiểu, do vậy suy thận không được coi là yếu tố có ảnh hưởng đến dược động học của fluticason furoat.
Suy gan
Không có dữ liệu về việc sử dụng fluticason furoat dạng xịt mũi ở những bệnh nhân suy gan. Dữ liệu có sẵn dưới đây của fluticason furoat (dạng fluticason furoat hoặc fluticason furoat/vilanterol) dùng đường hít qua miệng ở những bệnh nhân suy gan cũng có thể áp dụng cho dạng thuốc xịt mũi. Trong một nghiên cứu khi dùng liều đơn 400 microgram fluticason furoat hít qua miệng ở những bệnh nhân bị suy gan mức độ vừa (Child-Pugh B) dẫn đến tăng Cmax (42%) và diện tích dưới đường cong AUC(0-∞) (172%) so với nhóm đối tượng khỏe mạnh. Ở các bệnh nhân suy gan mức độ vừa hoặc nặng (Child Pugh B hoặc C), sau khi dùng liều lặp lại fluticason furoat/vilanterol đường hít qua miệng trong 7 ngày, có sự gia tăng phơi nhiễm toàn thân với fluticason furoat (trung bình gấp hai lần được đo bằng diện tích dưới đường cong AUC(0-24)) so với người khỏe mạnh. Sự gia tăng phơi nhiễm toàn thân với fluticason furoat (fluticason furoat/vilanterol 200/25 microgram) ở các bệnh nhân suy gan mức độ vừa có liên quan đến sự giảm trung bình 34% nồng độ cortisol huyết thanh so với người khỏe mạnh. Không có ảnh hưởng trên nồng độ cortisol huyết thanh ở những bệnh nhân suy gan nặng (khi dùng liều fluticason furoat/vilanterol 100/12,5 microgram). Từ kết quả này, sự phơi nhiễm trung bình được dự đoán khi dùng 110 microgram fluticason furoat qua đường xịt mũi ở những bệnh nhân này không được cho là dẫn đến sự ức chế của cortisol.
Đặc điểm dược động học khác
Fluticason furoat là một chất không thể định lượng được (quy ước khi nồng độ dưới 10 picogram/mL) sau khi dùng qua đường xịt mũi ở liều 110 microgram một lần mỗi ngày. Các mức độ có thể định lượng được chỉ được quan sát thấy ở dưới 31% số bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên và dưới 16% số bệnh nhi sau khi dùng thuốc xịt mũi ở liều 110 microgam một lần mỗi ngày. Không có bằng chứng cho thấy giới tính, tuổi tác (kể cả bệnh nhi), hoặc chủng tộc có liên quan đến nồng độ thuốc có thể định lượng được hay không thể định lượng được trong các nhóm nghiên cứu trên.
Các nghiên cứu lâm sàng
Viêm mũi dị ứng theo mùa ở người lớn và thiếu niên
Dùng một lần mỗi ngày 110 microgram thuốc xịt mũi AVAMYS dẫn đến cải thiện có ý nghĩa thống kê tổng điểm số triệu chứng mũi so với trước khi dùng thuốc phản ánh theo ngày - rTNSS (bệnh nhân cảm thấy thế nào so với 12 giờ trước đó) và ngay tức thì - iTNSS (bệnh nhân cảm thấy thế nào tại thời điểm đánh giá) [bao gồm chảy nước mũi, nghẹt mũi, hắt hơi và ngứa mũi] và tổng điểm số triệu chứng mắt phản ánh theo ngày và tức thì [rTOSS và iTOSS bao gồm ngứa/cảm giác rát bỏng mắt, chảy nước mắt và đỏ mắt] so với giả dược (xem bảng). Sự cải thiện các triệu chứng ở mũi và mắt được duy trì hơn 24 giờ sau khi dùng thuốc một lần mỗi ngày.
- xem bảng.

Các bệnh nhân dùng thuốc xịt mũi AVAMYS 110 microgram có nhận thức về đáp ứng chung đối với điều trị (sử dụng thang điểm 7 có phạm vi từ cải thiện đáng kể đến tình trạng xấu đi đáng kể) tốt hơn so với giả dược, khác biệt có ý nghĩa thống kê. Thuốc khởi phát tác dụng sớm chỉ 8 giờ sau khi dùng liều khởi đầu trong cả hai nghiên cứu. Trong 24 giờ đầu đã quan sát thấy cải thiện đáng kể các triệu chứng trong tất cả bốn nghiên cứu và các triệu chứng vẫn tiếp tục được cải thiện trong vài ngày sau. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (được đánh giá theo Bộ câu hỏi về chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bị Viêm mũi-kết mạc mắt-RQLQ), được cải thiện đáng kể so với ban đầu ở nhóm dùng thuốc xịt mũi AVAMYS khác biệt có ý nghĩa thống kê so sánh với nhóm giả dược. (Sai biệt quan trọng tối thiểu trong tất cả các nghiên cứu = cải thiện ít nhất -0,5 so với giả dược; sai biệt về điều trị -0,690, p<0,001, khoảng tin cậy 95% -0,84; -0,54).
Viêm mũi dị ứng quanh năm ở người lớn và thiếu niên
Dùng một lần mỗi ngày 110 microgram thuốc xịt mũi AVAMYS dẫn đến cải thiện có ý nghĩa thống kê tổng điểm số triệu chứng mũi phản ánh theo ngày - rTNSS (sai biệt trung bình LS = -0,706, P=0,005, khoảng tin cậy 95% -1,20; -0,21). Cải thiện các triệu chứng về mũi được duy trì hơn 24 giờ sau khi dùng thuốc một lần mỗi ngày. Nhận thức của các bệnh nhân về đáp ứng chung đối với điều trị cũng được cải thiện có ý nghĩa thống kê so với giả dược.
Trong một nghiên cứu kéo dài 2 năm để đánh giá tính an toàn trên mắt của fluticason furoat (110 microgram xịt mũi một lần mỗi ngày), đối tượng nghiên cứu là người lớn và thanh thiếu niên bị viêm mũi dị ứng quanh năm dùng fluticason furoat (n=367) hoặc giả dược (n=181). Tiêu chí chính [thời gian để tăng độ đục dưới bao sau (≥0,3 so với ban đầu theo Hệ thống Phân loại Độ đục Thủy tinh thể (Lens Opacities Classification System, Version III = LOCS III grade)) và thời gian để tăng áp lực nội nhãn (IOP; ≥7mmHg so với ban đầu)] không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Sự tăng độ đục dưới bao sau (≥0,3 so với ban đầu) thường gặp hơn ở những đối tượng điều trị bằng fluticason furoat 110 microgram [14 (4%)] so với giả dược [4 (2%)] và về bản chất là thoáng qua ở 10 đối tượng trong nhóm fluticason furoat và 2 đối tượng trong nhóm giả dược. Sự tăng áp lực nội nhãn (≥7mmHg so với ban đầu) thường gặp hơn ở nhóm điều trị bằng fluticason furoat 110 microgram: 7 (2%) đối với fluticason furoat 110 microgram một lần mỗi ngày và 1 (<1%) đối với giả dược. Những biến cố này về bản chất là thoáng qua với 6 đối tượng trong nhóm fluticason furoat và 1 đối tượng nhóm giả dược. Ở tuần 52 và 104, 95% đối tượng ở cả hai nhóm điều trị có giá trị độ đục dưới bao sau trong khoảng ±0,1 giá trị ban đầu với mỗi mắt và ở tuần 104, ≤1% số đối tượng ở cả hai nhóm điều trị có tăng độ đục dưới bao sau ≥0,3 so với ban đầu. Ở tuần 52 và 104, phần lớn đối tượng (>95%) có giá trị áp lực nội nhãn trong khoảng ±5mmHg giá trị ban đầu. Sự tăng độ đục dưới bao sau hay áp lực nội nhãn không đi kèm với bất kỳ tác dụng không mong muốn đục thủy tinh thể hay tăng nhãn áp (glaucoma) nào.
Trẻ em
Việc định liều thuốc sử dụng trên bệnh nhi dựa vào việc đánh giá các dữ liệu về hiệu quả của thuốc trên bệnh nhi bị viêm mũi dị ứng. Trong một nghiên cứu về viêm mũi dị ứng theo mùa ở trẻ em, dùng 110 microgram thuốc xịt mũi AVAMYS trong hơn 2 tuần cho thấy đạt hiệu quả ở tiêu chí chính (tổng điểm số triệu chứng mũi phản ánh theo ngày (rTNSS) với sai biệt trung bình LS = -0,616, P=0,025, khoảng tin cậy 95% -1,15; -0,08) và ở tất cả các tiêu chí phụ ở mũi, ngoại trừ điểm số phản ánh theo ngày riêng biệt cho triệu chứng chảy nước mũi ở từng cá nhân. Không quan sát thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng thuốc xịt mũi AVAMYS liều 55 microgram và nhóm giả dược ở bất kỳ tiêu chí nào.
Trong một nghiên cứu về viêm mũi dị ứng quanh năm, thuốc xịt mũi AVAMYS liều 55 microgam đạt hiệu quả ở tiêu chí tổng điểm số triệu chứng mũi phản ánh theo ngày (rTNSS) (sai biệt trung bình LS = -0,754, P=0,003, khoảng tin cậy 95% -1,24; -0,27). Mặc dù có một khuynh hướng nghiêng về cải thiện tổng điểm số triệu chứng mũi phản ánh theo ngày (rTNSS) ở liều 100 microgram, nhưng ở liều này không đạt được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (sai biệt trung bình LS = -0,452, P=0,073, khoảng tin cậy 95% -1,24; -0,04). Phân tích hậu - thử nghiệm (Post-hoc analysis) các dữ liệu về hiệu quả thuốc từ 6 đến 12 tuần từ nghiên cứu này và một nghiên cứu về tính an toàn trên trục HPA (hạ đồi-tuyến yên-thượng thận) kéo dài 6 tuần, mỗi nghiên cứu đều cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về tổng điểm số triệu chứng mũi phản ánh theo ngày (rTNSS) khi dùng thuốc xịt mũi AVAMYS liều 110 microgram so với giả dược.
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, nhóm song song, đa trung tâm, đối chứng với giả dược kéo dài 1 năm về sự tăng trưởng trên lâm sàng đã đánh giá hiệu quả của fluticason furoat xịt mũi 110 microgram/ngày trên tốc độ tăng trưởng ở 474 trẻ em trước tuổi dậy thì (5 đến 7,5 tuổi với nữ và 5 đến 8,5 tuổi với nam) sử dụng thiết bị đo chiều cao. Tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn điều trị 52 tuần thấp hơn ở bệnh nhân dùng fluticason furoat (5,19 cm/năm) so với bệnh nhân dùng giả dược (5,46 cm/năm). Sự khác biệt điều trị trung bình là -0,27 cm/năm [95% CI -0,48 đến -0,06].

An toàn tiền lâm sàng

Tính sinh ung thư, gây đột biến
Trong những nghiên cứu về dạng hít kéo dài 2 năm trên chuột cống và chuột nhắt, không có sự tăng tần suất bị u bướu liên quan đến điều trị.
Thuốc xịt mũi AVAMYS không gây độc gen trên cả in vitro hoặc in vivo.
Độc tính trên khả năng sinh sản
Khả năng gây độc lên sinh sản được đánh giá trên các loại động vật sau khi dùng dạng hít để đảm bảo nồng độ phơi nhiễm toàn thân với fluticason furoat cao. Không có ảnh hưởng lên khả năng giao phối hoặc khả năng sinh sản ở chuột cống đực và cái. Ở chuột cống, độc tính đối với sự phát triển giới hạn trong sự gia tăng tỷ lệ bị cốt hóa xương ức không hoàn toàn kèm với giảm trọng lượng bào thai. Dùng những liều cao trên thỏ gây sẩy thai. Các phát hiện này là đặc trưng sau khi phơi nhiễm toàn thân với các corticosteroid mạnh. Không thấy các bất thường lớn trên xương hoặc nội tạng cả trên chuột cống hoặc thỏ, và không ảnh hưởng lên phát triển trước hoặc sau khi sinh con ở chuột cống.
Độc tính và/hoặc dược lý học trên động vật
Những phát hiện trong các nghiên cứu độc tính chung là tương tự như các phát hiện đã được quan sát với những glucocorticoid khác và không được xem là có liên quan trên lâm sàng với việc sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS.

Chỉ định/Công dụng

Người lớn và thiếu niên (12 tuổi trở lên)
Điều trị các triệu chứng ở mũi (chảy nước mũi, xung huyết mũi, ngứa mũi và hắt hơi) và các triệu chứng ở mắt (ngứa/cảm giác rát bỏng mắt, chảy nước mắt và đỏ mắt) của viêm mũi dị ứng theo mùa.
Điều trị các triệu chứng ở mũi (chảy nước mũi, xung huyết mũi, ngứa mũi và hắt hơi) của viêm mũi dị ứng quanh năm.
Trẻ em (2 đến 11 tuổi)
Điều trị các triệu chứng ở mũi (chảy nước mũi, xung huyết mũi, ngứa mũi và hắt hơi) của cả viêm mũi dị ứng theo mùa và viêm mũi dị ứng quanh năm.

Liều lượng & Cách dùng

Chỉ sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS qua đường xịt vào trong mũi. Nên khuyên bệnh nhân sử dụng thuốc đều đặn để có được hiệu quả điều trị đầy đủ. Thuốc khởi phát tác dụng sớm khoảng 8 giờ sau khi dùng liều khởi đầu. Có thể cần dùng thuốc trong vài ngày để đạt được lợi ích tối đa. Cần giải thích cho bệnh nhân rằng hiệu quả điều trị của thuốc không xuất hiện ngay (xem mục Các nghiên cứu lâm sàng).
Các nhóm đối tượng bệnh nhân
Để điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa và viêm mũi dị ứng quanh năm
Người lớn và thiếu niên (12 tuổi trở lên)
Liều khởi đầu được đề nghị là 2 nhát xịt (27,5 microgram/nhát xịt) vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều mỗi ngày là 110 microgram).
Một khi các triệu chứng đã được kiểm soát đầy đủ, việc giảm liều xuống còn 1 nhát xịt vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều mỗi ngày là 55 microgram) có thể có hiệu quả để điều trị duy trì.
Trẻ em (từ 2 đến 11 tuổi)
Liều khởi đầu được đề nghị là 1 nhát xịt (27,5 microgram/nhát xịt) vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều mỗi ngày là 55 microgram).
Có thể sử dụng 2 nhát xịt vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều hàng ngày là 110 microgram) khi bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với liều 1 nhát xịt vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều mỗi ngày là 55 microgram).
Một khi các triệu chứng đã được kiểm soát đầy đủ, nên giảm liều xuống 1 nhát xịt vào mỗi bên mũi x 1 lần/ngày (tổng liều mỗi ngày là 55 microgram).
Trẻ em (dưới 2 tuổi)
Không có dữ liệu để khuyến cáo sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc viêm mũi dị ứng quanh năm ở trẻ em dưới 2 tuổi.
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều dùng (xem mục Dược lý - ''Dược động học'').
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều dùng (xem mục Dược lý - ''Dược động học'').
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân suy gan (xem mục Cảnh báo và mục Dược lý - ''Dược động học'').
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
Nên hướng dẫn bệnh nhân rằng phải khởi động bình xịt trước khi sử dụng lần đầu tiên và khởi động lại nếu nắp bị bỏ ra hoặc bình xịt có vẻ như không hoạt động. Để khởi động bình xịt, lắc kỹ bình xịt đang đậy nắp trong khoảng 10 giây. Việc này rất quan trọng vì thuốc xịt mũi AVAMYS là hỗn dịch đặc, hỗn dịch này trở nên lỏng khi lắc kỹ. Chỉ có thể xịt được khi hỗn dịch trở thành lỏng. Sau đó, bệnh nhân phải ấn mạnh nút khoảng 6 lần cho đến khi trông thấy lớp sương mịn (để đảm bảo phân phối được đủ liều). Một khi đã khởi động bình xịt, bệnh nhân phải lắc kỹ bình xịt trước mỗi lần sử dụng. Phải đóng nắp lại sau khi dùng để giữ cho vòi xịt sạch và để tránh việc phải khởi động lại.
Phần này bao gồm các thông tin sau:
• Mô tả bình xịt mũi
• 6 điều quan trọng cần biết về thuốc xịt mũi AVAMYS
• Chuẩn bị bình xịt
• Sử dụng bình xịt
• Vệ sinh bình xịt
- xem Hình.

Cảnh báo

Dựa trên các dữ liệu về một glucocorticoid khác được chuyển hóa bởi CYP3A4, thuốc được khuyến cáo không sử dụng kết hợp với ritonavir do có nguy cơ tăng nồng độ fluticason furoat toàn thân (xem mục Tương tác và Dược lý - ''Dược động học'').
Đã có báo cáo về tác dụng toàn thân khi dùng corticosteroid xịt qua đường mũi, đặc biệt khi dùng liều cao trong thời gian dài. Các tác dụng này ít xảy ra hơn nhiều so với khi dùng corticosteroid đường uống và có thể khác nhau ở các đối tượng bệnh nhân và khác nhau giữa các chế phẩm corticosteroid. Đã quan sát thấy sự giảm tốc độ tăng trưởng ở trẻ em điều trị bằng fluticason furoat 110 microgram/ngày trong 1 năm (xem Tác dụng ngoại ý và Dược lý - ''Các nghiên cứu lâm sàng''). Do đó, nên duy trì liều thấp nhất đủ để kiểm soát triệu chứng cho trẻ em (xem Liều lượng và Cách dùng). Cũng như các corticosteroid dùng qua đường mũi khác, bác sỹ nên chú ý đến khả năng xảy ra tác dụng toàn thân của steroid bao gồm cả những thay đổi về mắt (xem Dược lý - ''Các nghiên cứu lâm sàng'').
Mũi
Tác dụng không mong muốn trên mũi: trong dữ liệu thử nghiệm lâm sàng, các tác dụng không mong muốn phổ biến được báo cáo là chảy máu cam và loét mũi. Các trường hợp bị thủng vách mũi khi dùng thuốc xịt mũi fluticason furoat đã được báo cáo sau khi lưu hành thuốc (xem Tác dụng ngoại ý).
Bệnh tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể
Các corticosteroid dùng đường hít và tại mũi có thể gây ra sự tiến triển của bệnh tăng nhãn áp và/hoặc đục thủy tinh thể. Do đó, nên theo dõi chặt chẽ đối với những bệnh nhân bị thay đổi thị lực hoặc có tiền sử bị tăng áp lực nội nhãn (Increased intraocular pressure IOP), tăng nhãn áp và/hoặc đục thủy tinh thể.
Sự hình thành bệnh tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể đã được đánh giá bằng việc đo áp lực nội nhãn và kiểm tra đèn khe trong một nghiên cứu có đối chứng kéo dài 12 tháng trên 806 bệnh nhân người lớn và thanh thiếu niên từ 12 tuổi trở lên và trong một nghiên cứu có đối chứng kéo dài 12 tuần trên 558 trẻ em từ 2 đến 11 tuổi. Những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng quanh năm điều trị bằng fluticason furoat dạng xịt mũi (110 mcg một lần/ngày ở bệnh nhân người lớn và thanh thiếu niên, và 55 hoặc 110 mcg một lần/ngày ở bệnh nhi) hoặc giả dược. Áp lực nội nhãn duy trì trong khoảng giới hạn bình thường (nhỏ hơn 21 mmHg) ở ≥98% bệnh nhân trong bất kỳ nhóm điều trị nào của cả hai nghiên cứu. Tuy nhiên, trong nghiên cứu kéo dài 12 tháng ở người lớn và thanh thiếu niên, 12 bệnh nhân có áp lực nội nhãn cao hơn mức bình thường (≥21mmHg) đều điều trị bằng fluticason furoat dạng xịt mũi 110 mcg một lần/ngày. Cũng trong nghiên cứu đó, có 7 bệnh nhân bị phát hiện đục thủy tinh thể trong quá trình nghiên cứu mà không bị như vậy khi bắt đầu nghiên cứu (trong đó 6 bệnh nhân điều trị bằng fluticason furoat dạng xịt mũi 110 mcg một lần/ngày và 1 bệnh nhân điều trị bằng giả dược).
Phản ứng quá mẫn
Phản ứng quá mẫn, bao gồm phản vệ, phù mạch, ngứa và mày đay có thể xảy ra sau khi dùng thuốc fluticason furoat dạng xịt mũi. Nên ngừng thuốc fluticason furoat dạng xịt mũi nếu các phản ứng này xảy ra (xem Chống chỉ định).
Ảnh hưởng lên trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận
Ức chế thượng thận và tình trạng Cushing do thuốc.
Khi sử dụng các steroid đường mũi ở liều cao hơn khuyến cáo hoặc ở những đối tượng nhạy cảm khi dùng đúng với liều khuyến cáo, tác dụng toàn thân của corticosteroid như tình trạng Cushing do thuốc và ức chế thượng thận có thể xảy ra. Nếu những thay đổi này xảy ra, nên từ từ ngừng sử dụng thuốc fluticason furoat dạng xịt mũi tương tự như qui trình ngừng liệu pháp corticoid dùng đường uống.
Việc thay thế corticoid dùng đường toàn thân bằng một corticoid dùng tại chỗ có thể cũng xảy ra các dấu hiệu suy thượng thận. Ngoài ra, một số bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng “cai thuốc” corticoid, ví dụ như đau khớp và/hoặc cơ, mệt mỏi, trầm cảm. Những bệnh nhân trước đó đã điều trị lâu dài bằng corticosteroid đường toàn thân chuyển sang dùng thuốc corticosteroid tác dụng tại chỗ nên được theo dõi cẩn thận tình trạng suy thượng thận cấp khi đáp ứng với stress. Ở những bệnh nhân bị hen hoặc các bệnh lý mà yêu cầu điều trị kéo dài bằng cortiosteoid đường toàn thân, sự giảm liều corticosteroid đường toàn thân nhanh có thể gây ra một đợt kịch phát nghiêm trọng các triệu chứng của họ.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Dựa vào dược lý học của fluticason furoat và các steroid khác dùng qua đường xịt mũi, không có cơ sở cho thấy thuốc xịt mũi AVAMYS có ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Quá Liều

Triệu chứng và dấu hiệu
Trong một nghiên cứu về sinh khả dụng, người ta không quan sát thấy tác dụng không mong muốn toàn thân khi dùng liều cao đến gấp 24 lần so với liều hàng ngày được khuyến cáo dành cho người lớn qua đường xịt mũi trong hơn 3 ngày (xem mục Dược lý - ''Dược động học'').
Điều trị
Quá liều cấp tính có thể không cần điều trị gì ngoài việc theo dõi.

Chống chỉ định

Chống chỉ định sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS cho những bệnh nhân quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú

Không có dữ liệu đầy đủ về việc sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS trong thai kỳ và cho con bú ở người. Chỉ nên sử dụng thuốc xịt mũi AVAMYS trong thai kỳ khi mà lợi ích điều trị cho người mẹ vượt trội các nguy cơ tiềm tàng đối với thai nhi.
Khả năng sinh sản
Không có dữ liệu trên người (xem An toàn tiền lâm sàng - ''Độc tính trên khả năng sinh sản'').
Thai kỳ
Sau khi dùng thuốc xịt mũi AVAMYS ở liều tối đa được khuyến cáo cho người qua đường xịt vào trong mũi (110 microgram mỗi ngày), nồng độ của fluticason furoat trong huyết tương không thể định lượng được và do vậy nguy cơ gây độc trên khả năng sinh sản được dự đoán là rất thấp (xem An toàn tiền lâm sàng - ''Độc tính trên khả năng sinh sản'').
Cho con bú
Sự bài tiết của fluticason furoat vào sữa mẹ chưa được nghiên cứu.
Fluticason furoat dùng đường mũi chưa được biết rõ có bài tiết vào sữa mẹ hay không.
Việc sử dụng fluticason furoat ở phụ nữ đang cho con bú. Chỉ nên được cân nhắc khi lợi ích mong muốn đối với người mẹ cao hơn nguy cơ tiềm tàng đối với em bé.

Tương tác

Fluticason furoat được thải trừ nhanh bởi chuyển hóa bước đầu khá nhiều qua trung gian cytochrom P450 3A4. Trong một nghiên cứu về tương tác thuốc giữa fluticason furoat dạng xịt mũi với chất ức chế mạnh CYP3A4 là ketoconazol, số lượng bệnh nhân với nồng độ fluticason furoat có thể đo được trong huyết tương ở nhóm dùng ketoconazol (6 trên 20 bệnh nhân) cao hơn so với nhóm dùng giả dược (1 trên 20 bệnh nhân). Sự tăng nhẹ nồng độ thuốc này không dẫn đến khác biệt có ý nghĩa thống kê về các mức cortisol huyết thanh trong 24 giờ giữa hai nhóm.
Các dữ liệu về việc ức chế enzym và cảm ứng enzym gợi ý rằng không có cơ sở lý thuyết để tiên đoán tương tác chuyển hóa giữa fluticason furoat và sự chuyển hóa qua trung gian cytochrome P450 của các hợp chất khác ở những liều xịt mũi thích hợp trên lâm sàng. Do vậy, người ta không tiến hành nghiên cứu lâm sàng để khảo sát sự tương tác thuốc giữa fluticason furoat với các thuốc khác (xem mục Cảnh báo và mục Dược lý - ''Dược động học'').
Dựa trên dữ liệu của fluticason propionat, một glucocorticoid khác chuyển hóa bởi CYP3A4, không khuyến cáo sử dụng đồng thời fluticason furoat dạng xịt mũi với chất ức chế mạnh CYP3A4, ritonavir bởi vì nguy cơ xảy ra tác dụng toàn thân thứ phát do tăng phơi nhiễm với fluticason furoat. Sự phơi nhiễm với các corticosteroid cao làm tăng khả năng xảy ra tác dụng phụ toàn thân, như ức chế tiết cortisol.

Tác dụng ngoại ý

Corticosteroid dùng đường toàn thân hay tại chỗ có thể gây ra tác dụng không mong muốn sau:
• Đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp (xem Cảnh báo)
Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng rộng lớn được sử dụng để xác định tần suất của các tác dụng không mong muốn. Quy ước dưới đây được sử dụng trong việc phân loại tần suất: Rất phổ biến (≥1/10); Phổ biến (≥1/100 đến <1/10); Không phổ biến (≥1/1.000 đến <1/100); Hiếm (≥1/10.000 đến <1/1.000); Rất hiếm (<1/10.000).
Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Rất phổ biến: Chảy máu cam.
Ở người lớn và thanh thiếu niên, tỷ lệ bị chảy máu cam khi sử dụng thuốc trong thời gian dài (nhiều hơn 6 tuần) cao hơn so với khi sử dụng thuốc trong thời gian ngắn (không quá 6 tuần). Trong các nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhi với thời gian lên tới 12 tuần thì tỷ lệ bị chảy máu cam là tương tự giữa nhóm điều trị bằng thuốc xịt mũi AVAMYS so với nhóm dùng giả dược.
Phổ biến: Loét mũi.
Trẻ em
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Không biết: Chậm tăng trưởng.
Trong một nghiên cứu lâm sàng kéo dài 1 năm đánh giá sự tăng trưởng ở trẻ em trước tuổi dậy thì dùng 110 microgram fluticason furoat 1 lần/ngày, đã quan sát thấy sự khác biệt trung bình -0,27cm mỗi năm về tốc độ tăng trưởng so với giả dược (xem Dược lý - ''Các nghiên cứu lâm sàng'').
Dữ liệu sau khi lưu hành thuốc
Rối loạn hệ miễn dịch
Hiếm: Các phản ứng quá mẫn bao gồm phản vệ, phù mạch, phát ban và mày đay.
Rối loạn hệ thần kinh
Phổ biến: Đau đầu.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Không phổ biến: Đau mũi, khó chịu ở mũi (bao gồm cảm giác rát bỏng mũi, kích ứng mũi và đau nhức mũi), khô mũi.
Rất hiếm: Thủng vách ngăn mũi.

Bảo quản

Bảo quản dưới 30oC.
Không để trong tủ lạnh hoặc đông đá.

Phân loại ATC

R01AD12 - fluticasone furoate

Trình bày/Đóng gói

Hỗn dịch xịt mũi: hộp 1 bình 30, 60 hoặc 120 liều xịt.

A