Nhà sản xuất

Ebewe Pharma

Nhà phân phối

Zuellig Pharma

Nhà tiếp thị

Sandoz

Thành phần

Mỗi mL: Paclitaxel 6mg.

Dược lực học

Nhóm dược lý: tác nhân chống ung thư, dẫn xuất alkaloid thực vật và các sản phẩm tự nhiên khác, nhóm taxan.
Mã ATC: L01CD01.
Paclitaxel là tác nhân chống vi ống, tập hợp được các vi ống từ ống nhị phân tử và ổn định các vi ống do ngăn cản quá trình giải trùng hợp. Sự ổn định này ức chế sự tổ chức lại bình thường của lưới vi ống, là điều cốt yếu cho pha nghỉ (gian kỳ) của quá trình phân bào giảm nhiễm và hoạt động của ty lạp thể. Hơn nữa, paclitaxel cũng thúc đẩy hình thành các cấu trúc bất thường của các bó vi ống trong suốt chu kỳ của tế bào, và vô số các thể sao của vi ống trong thời kỳ gián phân.
Ung thư biểu mô buồng trứng
Trong hóa trị liệu điều trị ung thư buồng trứng, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel được đánh giá trong 2 thử nghiệm chính, có đối chứng, ngẫu nhiên (so với cyclophosphamid 750 mg/m2, cisplatin 75 mg/m2). Trong thử nghiệm giữa các nhóm (B-MS CA 139-209), trên 650 bệnh nhân ung thư buồng trứng nguyên phát giai đoạn IIb-c, III hoặc IV được điều trị tối đa 9 đợt paclitaxel (175 mg/m2 trong 3 giờ) sau đó dùng cisplatin (75 mg/m2) hoặc giả dược.
Thử nghiệm chính thứ 2 (GOG-111/BMS CA139-022) đã đánh giá trên tối đa 6 đợt điều trị paclitaxel (135 mg/m2 trong 24 giờ) sau đó cisplatin (75 mg/m2) hoặc giả dược trên hơn 400 bệnh nhân ung thư buồng trứng nguyên phát giai đoạn III/IV, với kích thước khối u > 1cm sau khi giải phẫu bụng hoặc di căn xa. Trong khi 2 cách dùng paclitaxel khác nhau không so sánh trực tiếp được với nhau thì trong cả 2 thử nghiệm bệnh nhân điều trị paclitaxel phối hợp với cisplatin có tỉ lệ đáp ứng cao hơn rõ rệt, thời gian để bệnh tiến triển kéo dài hơn, thời gian sống sót lâu hơn khi so sánh với liệu pháp tiêu chuẩn. Trên các bệnh nhân ung thư buồng trứng tiến triển được truyền tĩnh mạch paclitaxel trong 3 giờ sau đó là cisplatin cho thấy tăng độc tính thần kinh, đau cơ/ đau khớp nhưng lại giảm suy tủy so với bệnh nhân được điều trị cyclophosphamid/cisplatin.
Ung thư biểu mô vú
Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú, 3121 bệnh nhân ung thư vú có hạch dương tính được điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel hoặc không điều trị hóa trị liệu sau 4 đợt điều trị doxorubicin và cyclophosphamid (CALGB 9344, BMS CA 139-223). Thời gian theo dõi trung bình là 69 tháng. Nhìn chung, các bệnh nhân điều trị bằng paclitaxel giảm rõ rệt 18% nguy cơ tái phát bệnh (p=0,0014) và giảm rõ rệt 19% nguy cơ tử vong (p=0,0044) so với các bệnh nhân điều trị AC đơn độc.
Các phân tích hồi cứu chỉ ra lợi ích cho tất cả các nhóm bệnh nhân.
Các bệnh nhân có khối u chưa xác định hoặc không có thụ thể hormon, nguy cơ tái phát bệnh giảm 28% (95% CI: 0,59-0,86). Trong phân nhóm bệnh nhân có thụ thể hormon, nguy cơ tái phát bệnh giảm 9% (95% CI: 0,78-1,07). Tuy nhiên, thiết kế nghiên cứu không điều tra tác dụng của liệu pháp AC mở rộng quá 4 đợt điều trị. Không thể loại trừ khả năng những tác dụng quan sát được có thể một phần là do sự khác biệt về khoảng thời gian điều trị hóa trị giữa 2 nhóm (AC 4 đợt điều trị; AC + paclitaxel 8 đợt). Vì vậy, điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel nên được coi là một lựa chọn đối với liệu pháp AC mở rộng.
Trong một nghiên cứu lâm sàng lớn thứ 2 trong hỗ trợ điều trị ung thư vú có hạch dương tính với một thiết kế tương tự, 3060 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên để điều trị bằng 4 đợt điều trị AC (NSABP B-28, BMS CA139-270) và sau đó có hoặc không điều trị paclitaxel với mức liều cao hơn là 225 mg/m2. Thời gian theo dõi trung bình là 64 tháng, các bệnh nhân dùng có điều trị bổ sung paclitaxel giảm rõ rệt 17% nguy cơ tái phát bệnh so với nhóm bệnh nhân chỉ điều trị bằng AC (p=0,006); nhóm bệnh nhân được điều trị bổ sung paclitaxel làm nguy cơ tử vong giảm xuống 7% (95% CI: 0,78-1,12). Tất cả các phân tích đều thiên về hướng có lợi cho nhóm bệnh nhân dùng paclitaxel. Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân có khối u có thụ thể hormon giảm nguy cơ tái phát bệnh xuống 23% (95% CI: 0,6-0,92); trong phân nhóm bệnh nhân có khối u không có thụ thể hormon nguy cơ tái phát bệnh giảm 10% (95% CI: 0,7-1,11).
Trong điều trị ban đầu ung thư vú di căn, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel được đánh giá trong 2 thử nghiệm then chốt có đối chứng, ngẫu nhiên, pha III.
Trong nghiên cứu đầu tiên (BMS CA139-278), phác đồ phối hợp điều trị bằng tiêm nhanh doxorubicin (50mg/m2) cách 24 giờ và truyền tiếp paclitaxel (220 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ) (AT), được so sánh với điều trị chuẩn FAC (5-FU 500 mg/m2, doxorubicin 50 mg/m2, cyclophosphamid 500 mg/m2), cả 2 chế độ đều được áp dụng 3 tuần 1 lần cho 8 đợt điều trị. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên này, 267 bệnh nhân bị ung thư vú di căn không điều trị hóa trị liệu trước đó hoặc chỉ điều trị hóa trị liệu không anthracyclin trong liệu pháp bổ trợ được tham gia nghiên cứu. Các kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian bệnh tiến triển của bệnh nhân điều trị AT so với bệnh nhân điều trị FAC (8,2 so với 6,2 tháng; p=0,029). Thời gian sống trung bình thiên về nhóm paclitaxel/doxorubicin so với nhóm dùng FAC (23,0 so với 18,3 tháng; p=0,004). 44% bệnh nhân trong nhóm AT và 48% bệnh nhân nhóm FAC được hóa trị liệu lần hai, 7% trong số họ (nhóm AT) và 50% (nhóm FAC) được điều trị với taxan. Tỉ lệ đáp ứng chung cao hơn rõ rệt ở nhóm AT so với nhóm FAC (68% so với 55%). Tỉ lệ đáp ứng chung là 19% bệnh nhân trong nhóm paclitaxel/doxorubicin so với 8% trong nhóm FAC. Tất cả các kết quả về hiệu quả của thuốc sau đó đã được khẳng định trong một đánh giá tổng hợp độc lập và mù.
Trong nghiên cứu chính thứ 2, về hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel khi phối hợp với trastuzumab được xác định trong khi phân tách các phân nhóm của nghiên cứu HO648g (bệnh nhân ung thư vú di căn điều trị hỗ trợ bằng anthracyclin). Tác dụng của trastuzumab trong phối hợp với paclitaxel ở bệnh nhân không điều trị hỗ trợ bằng anthracyclin trước đó vẫn chưa được chứng minh. Sự phối hợp trastuzumab (4 mg/kg liều đầu sau đó 2 mg/kg mỗi tuần) và paclitaxel (175 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 3 tuần 1 lần so với paclitaxel đơn trị liệu (175 mg/m2) truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 3 tuần 1 lần trên 188 bệnh nhân ung thư vú di căn biểu hiện quá mức HER2 (2+ hoặc 3+ xác định bằng hóa mô miễn dịch) trước đó đã được điều trị bằng anthracyclin. Paclitaxel được điều trị 3 tuần 1 lần cho ít nhất 6 đợt điều trị trong khi trastuzumab được truyền tĩnh mạch hàng tuần cho đến khi bệnh tiến triển. Nghiên cứu cho thấy lợi ích rõ rệt của việc phối hợp paclitaxel/trastuzumab về thời gian bệnh tiến triển (6,9 so với 3,0 tháng), tỉ lệ đáp ứng (41% so với 17%), và khoảng thời gian đáp ứng (10,5 so với 4,5 tháng) khi so sánh với paclitaxel đơn trị liệu. Độc tính có ý nghĩa nhất quan sát được từ sự phối hợp paclitaxel/trastuzumab là rối loạn chức năng tim (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ
Trong điều trị NSCLC tiến triển, liều paclitaxel 175 mg/msau đó là cisplatin 80 mg/m2 đã được đánh giá trong 2 thử nghiệm pha III (367 bệnh nhân điều trị bằng paclitaxel). Cả 2 thử nghiệm đều ngẫu nhiên, một so sánh với điều trị bằng cisplatin 100 mg/m2, một sử dụng teniposid 100 mg/m2 sau đó cisplatin 80 mg/m2 với chất đối chứng (367 bệnh nhân nhóm so sánh).
Các kết quả trong mỗi thử nghiệm là tương tự. Đối với kết quả chính trên lâm sàng về tử vong, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa chế độ điều trị có paclitaxel và chất đối chứng (thời gian sống trung bình 8,1 và 9,5 tháng đối với điều trị bằng paclitaxel, 8,6 và 9,9 tháng đối với các chất đối chứng). Tương tự, về thời gian sống không có tiến triển bệnh, cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm điều trị. Tỉ lệ đáp ứng trên lâm sàng tốt hơn trên nhóm được điều trị với paclitaxel. Các kết quả về cải thiện chất lượng cuộc sống thể hiện thông qua chứng chán ăn cũng cho thấy lợi ích của việc điều trị bằng paclitaxel. Hơn nữa, cũng có những bằng chứng rõ ràng của việc điều trị bằng paclitaxel về bệnh thần kinh ngoại vi (p< 0,008).
Kaposi Sarcoma ở bệnh nhân AIDS
Trong điều trị Kaposi Sarcoma ở bệnh nhân AIDS, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel đã được đánh giá trong một nghiên cứu không so sánh trên bệnh nhân Kaposi Sarcoma tiến triển đã điều trị hóa trị liệu trước đó. Chỉ tiêu đánh giá lâm sàng chính là đáp ứng của khối u sau điều trị. Trong số 107 bệnh nhân, 63 được xem là đề kháng với anthracyclin liposom. Phân nhóm này được coi là nhóm trung tâm để đánh giá hiệu quả điều trị. Tỉ lệ thành công chung (đáp ứng toàn bộ/cục bộ) sau 15 đợt điều trị là 57% (CI 44-70%) ở các bệnh nhân đề kháng với anthracyclin liposom. Trên 50% đáp ứng rõ rệt sau 3 đợt điều trị đầu tiên. Ở các bệnh nhân đề kháng anthracyclin liposom, tỉ lệ đáp ứng có thể so sánh được giữa các bệnh nhân không điều trị bằng chất ức chế protease (55,6%) so với bệnh nhân được điều trị bằng chất ức chế protease ít nhất trong 2 tháng trước khi điều trị paclitaxel (60,9%). Khoảng thời gian trung bình để bệnh tiến triển trong nhóm quần thể trung tâm là 468 ngày (95% CI 257-NE). Thời gian sống sót trung bình chưa tính toán được nhưng là 617 ngày với tỉ lệ thấp hơn 95% trong nhóm bệnh nhân trung tâm.

Dược động học

Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều truyền vào tĩnh mạch và giảm theo đồ thị có 2 pha. Dược động học của paclitaxel được xác định trong điều kiện truyền tĩnh mach với thời gian 3 giờ và 24 giờ với các liều 135 và 175 mg/m2. Thời gian bán thải trung bình của pha cuối từ 3,0-52,7 giờ, còn giá trị trung bình của độ thanh thải toàn thân không phụ thuộc các khoảng là 11,6 đến 24,0 lít/giờ/m2 độ thanh thải toàn thân sẽ giảm khi nồng độ của paclitaxel trong huyết tương cao. Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định là 198-688 lít/m2, chứng tỏ có sự phân bố rộng rãi ở ngoài mạch máu và/hoặc gắn mạnh vào mô. Nếu truyền 3 giờ và tăng liều paclitaxel thì việc tăng liều không có liên quan tuyến tính với việc tăng các thông số dược động học. Nếu tăng 30% liều, từ 135 mg/m2 lên 175 mg/m2, thì Cmax tăng 75% giá trị AUC0-∞ sẽ tăng 81%.
Sau khi truyền tĩnh mạch liều 100 mg/m2 trong 3 giờ trên 19 bệnh nhân KS, Cmax trung bình là 1530 ng/mL (khoảng biến thiên 761–2860 ng/mL) và AUC trung bình 5619 ng.h/mL (khoảng biến thiên 2609 – 9428 ng.h/mL). Độ thanh thải là 20,6 L/h/m2 (biến thiên 11-38) và thể tích phân phối là 291 L/m2 (khoảng biến thiên 121-638). Thời gian bán thải trung bình của pha cuối là 23,7 giờ (biến thiên 12-33 giờ).
Rất ít có thay đổi giữa các cá thể về sự phân bố paclitaxel trong toàn cơ thể. Chưa có chứng cớ về tích lũy paclitaxel khi dùng nhiều đợt điều trị.
Nghiên cứu in vitro cho thấy thuốc gắn 89-98% vào protein - huyết thanh người. Sự có mặt của cimetidin, ranitidin, dexamethason hoặc diphenhydramin không có ảnh hưởng tới sự gắn kết của paclitaxel vào protein.
Sự phân bố của paclitaxel trên người chưa được sáng tỏ. Giá trị trung bình về tổng lượng paclitaxel thải qua nước tiểu chỉ là 1,3-12,6% của liều dùng, chứng tỏ có sự thanh thải đáng kể không qua thận. Chuyển hóa qua gan và đào thải qua mật có thể là cơ chế chủ yếu của việc đào thải của paclitaxel. Paclitaxel chuyển hóa chủ yếu qua gan nhờ xúc tác của các enzym cytocrom P450. Khi truyền paclitaxel đánh dấu, thấy trung bình chất đánh dấu thải qua phân là các chất chuyển hóa sau: 26% 6-alpha-hydroxy-paclitaxel, 2% là 3'-p-dihydroxy- paclitaxel, còn 6% là 6-alpha-3'-p-dihydroxy paclitaxel. Sự chuyển hóa để cho ra các chất chuyển hóa hydroxy này được xúc tác nhờ CYP2C8, CYP3A4 hoặc nhờ cả 2 enzym này. Chưa xác định được ảnh hưởng của suy chức năng gan thận tới phân bố của paclitaxel khi truyền 3 giờ. Những thông số dược động học đạt được từ một bệnh nhân qua thẩm tách lọc máu được truyền 3 giờ paclitaxel 135 mg/m2 là ở trong phạm vi các thông số đã được xác định ở những bệnh nhân không qua thẩm phân.
Trong các thử nghiệm lâm sàng trong đó paclitaxel và doxorubicin điều trị đồng thời, phân phối và thải trừ của doxorubicin và các chất chuyển hóa của thuốc được kéo dài. Tổng nồng độ doxorubicin trong huyết tương khi điều trị paclitaxel ngay sau doxorubicin cao hơn 30% so với khi 2 thuốc điều trị cách nhau 24 giờ.
Khi paclitaxel phối hợp điều trị với các liệu pháp khác, đề nghị xem tóm tắt đặc tính của cisplatin, doxorubicin hoặc trastuzumab để biết thông tin về cách dùng các thuốc này.

Chỉ định/Công dụng

Ung thư biểu mô buồng trứng
Trong hóa trị liệu đầu tay của ung thư buồng trứng, paclitaxel phối hợp với cisplatin được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư buồng trứng tiến triển hoặc bướu tồn lưu (>1cm), sau khi đã phẫu thuật.
Điều trị thứ hai ung thư biểu mô của buồng trứng di căn sau khi dùng platinum chuẩn không có kết quả.
Ung thư biểu mô vú
Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú, paclitaxel được chỉ định điều trị ung thư biểu mô di căn ở vú có hạch dương tính sau phác đồ dùng anthracyclin và cyclophosphamid (AC). Liệu pháp điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel nên được coi là một lựa chọn để mở rộng phác đồ điều trị bằng anthracyclin. Paclitaxel được chỉ định trong điều trị ban đầu cho ung thư vú di căn hoặc tiến triển cục bộ trong phối hợp với 1 anthracyclin cho bệnh nhân phù hợp với liệu pháp anthracyclin hoặc phối hợp với trastuzumab cho bệnh nhân biểu hiện quá mức HER-2 ở mức độ 3+ xác định bằng hóa mô miễn dịch và cho các bệnh nhân không phù hợp với liệu pháp anthracyclin (xem mục Thận trọng lúc dùng và mục Dược lực học).
Trong đơn trị liệu, paclitaxel được chỉ định trong điều trị ung thư biểu mô di căn ở vú cho bệnh nhân đã thất bại hoặc không phù hợp với liệu pháp anthracyclin.
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC)
Paclitaxel phối hợp với cisplatin được chỉ định trong điều trị ung thư biểu mô phổi không phải tế bào nhỏ ở bệnh nhân không thể phẫu thuật và/hoặc không chiếu tia được.
U Sarcom Kaposi ở bệnh nhân AIDS (KS)
Paclitaxel được chỉ định điều trị cho bệnh nhân AIDS bị u Sarcom Kaposi tiến triển thất bại trong liệu pháp anthracyclin dạng liposom trước đó.

Liều lượng & Cách dùng

Paclitaxel nên được sử dụng dưới sự giám sát chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm về hóa học liệu pháp chống ung thư.
Trước khi điều trị paclitaxel, tất cả các bệnh nhân phải dùng trước các thuốc corticosteroid, kháng histamin, và thuốc đối kháng H2,...

Xem hướng dẫn pha loãng sản phẩm trước khi dùng trong mục Hướng dẫn và thao tác sử dụng thuốc. Paclitaxel nên được truyền qua thiết bị lọc có màng vi ống đường kính ≤ 0,22μm  (xem mục Hướng dẫn và thao tác sử dụng thuốc).
Hóa trị đầu tay ung thư biểu mô buồng trứng
Chế độ liều phối hợp paclitaxel và cisplatin được khuyến cáo sử dụng. Theo khoảng thời gian truyền tĩnh mạch, có 2 mức liều paclitaxel được khuyến cáo: paclitaxel 175 mg/m2 tiêm truyền trong 3 giờ, tiếp theo đó là cisplatin 75 mg/m2 3 tuần 1 lần hoặc paclitaxel 135 mg/m2 tiêm truyền 24 giờ, tiếp theo đó cisplatin 75 mg/m2 điều trị cách quãng 3 tuần giữa 2 đợt điều trị (xem mục Dược lực học).
Điều trị thứ hai cho ung thư biểu mô buồng trứng
Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m2 dùng trong 3 giờ, có thời gian cách quãng 3 tuần giữa 2 đợt.
Điều trị hỗ trợ trong ung thư vú
Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m2 dùng trong 3 giờ, 3 tuần 1 đợt trong 4 đợt sau khi điều trị AC.
Điều trị đầu tay cho ung thư vú
Khi sử dụng phối hợp với doxorubicin (50 mg/m2), paclitaxel được chỉ định điều trị 24 giờ sau khi dùng doxorubicin. Liều khuyến cáo của paclitaxel là 220 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách quãng 3 tuần giữa các đợt (xem mục Tương tác và mục Dược lực học).
Khi dùng phối hợp với trastuzumab, liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách quãng 3 tuần giữa các đợt (xem mục Dược lực học). Truyền tĩnh mạch paclitaxel có thể bắt đầu từ ngay sau khi dùng trastuzumab liều đầu hoặc ngay sau khi dùng các liều tiếp theo của trastuzumab nếu như liều trước đó của trastuzumab được dung nạp tốt (để biết liều dùng cụ thể của trastuzumab xem tóm tắt đặc tính của trastuzumab).
Điều trị thứ hai của ung thư vú
Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với khoảng cách 3 tuần giữa các đợt.
Điều trị NSCLC tiến triển
Paclitaxel 175 mg/m2 dùng trong 3 giờ, tiếp theo là cisplatin 80 mg/m2; có thời gian cách quãng 3 tuần lễ giữa 2 đợt.
Điều trị sarcom Kaposi ở bệnh nhân AIDS
Liều khuyến cáo của paclitaxel là 100 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 2 tuần 1 lần. Các liều kế tiếp của paclitaxel nên được chỉ định theo khả năng dung nạp thuốc của các cá nhân. Paclitaxel không nên chỉ định lại cho đến khi lượng bạch cầu trung tính ≥1.500/mm3 (≥1.000/mm3 cho bệnh nhân KS) và lượng tiểu cầu >100.000/mm3 (>75.000/mm3 cho bệnh nhân KS). Bệnh nhân đã bị giảm bạch cầu trung tính nặng (lượng bạch cầu trung tính <500/mm3 trong 1 tuần hoặc dài hơn) hoặc bệnh nhân bị thần kinh ngoại vi nặng nên được giảm liều xuống 20% cho các đợt điều trị tiếp theo (25% cho bệnh nhân KS) (xem mục Thận trọng lúc dùng).
Bệnh nhân suy gan
Chưa có số liệu thỏa đáng về sự thay đổi chế độ liều ở bệnh nhân suy gan mức độ nhẹ đến trung bình (xem mục Thận trọng lúc dùng và mục Dược động học). Bệnh nhân bị suy gan nặng không nên điều trị tiếp với paclitaxel.
Bệnh nhân nhi
Paclitaxel không được khuyến cáo sử dụng trên trẻ em dưới 18 tuổi do chưa đủ dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả.
Hướng dẫn sử dụng và thao tác dùng thuốc
Thao tác dùng thuốc
Như tất cả các thuốc chống ung thư khác, nên thận trọng khi thao tác với paclitaxel. Thuốc chỉ pha trong điều kiện vô khuẩn bởi nhân viên y tế có kinh nghiệm và trong khu vực được thiết kế đặc biệt. Khuyến cáo sử dụng găng tay bảo vệ. Nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh thuốc tiếp xúc với da và niêm mạc. Nếu paclitaxel tiếp xúc với da, cần rửa sạch và kỹ vùng da bị tiếp xúc với thuốc bằng xà phòng và nước. Đã quan sát thấy vùng da sau khi tiếp xúc với thuốc bị ngứa, rát và đỏ. Nếu niêm mạc bị dính paclitaxel, phải rửa kỹ vùng bị tiếp xúc bằng nước. Đã ghi nhận hiện tượng khó thở, đau ngực, nóng rát họng, nôn mửa khi hít phải thuốc.
Không nên sử dụng thiết bị Chemo-Dispensing Pin hoặc các thiết bị tương tự có mũi nhọn do có thể làm hỏng nắp cao su của lọ thuốc dẫn đến thuốc không còn được vô trùng.
Chuẩn bị dịch truyền: Trước khi truyền, phải pha loãng paclitaxel trong điều kiện vô khuẩn với dung dịch natri clorid đẳng trương 0,9% hoặc dung dịch glucose 5% đến nồng độ cuối 0,3 – 1,2mg paclitaxel/mL để làm dịch truyền.
Dung dịch được chuẩn bị để truyền cần giữ ổn định ở nhiệt độ phòng trong vòng 27 giờ. Người sử dụng chịu trách nhiệm về thời gian và điều kiện bảo quản. Không bảo quản dung dịch đã được pha loãng trong tủ lạnh.
Sau khi chuẩn bị, dung dịch có thể hơi bị đục do dung môi bị cô đặc; không thể lọc được. Dung dịch truyền paclitaxel phải được lọc qua màng xốp (in-line filter) với kích thước lỗ màng < 0,22 microgram. Đã ghi nhận được hiệu lực của thuốc không bị giảm trong một thử nghiệm với hệ thống lọc in-line thích hợp.
Đã có một số lượng hiếm báo cáo về kết tủa trong dịch truyền paclitaxel, thường vào cuối 24 giờ truyền. Mặc dù nguyên nhân gây ra kết tủa chưa rõ ràng, có khả năng do mức độ quá bão hòa của dung dịch sau khi pha loãng. Để làm giảm nguy cơ xuất hiện kết tủa, nên dùng paclitaxel sớm nhất có thể sau khi đã pha loãng dung dịch để truyền, và tránh lắc thuốc quá mạnh.
Bộ truyền phải được rửa kỹ trước khi sử dụng. Trong quá trình truyền, nên kiểm tra dịch truyền thường xuyên và nếu có xuất hiện kết tủa nên ngừng truyền.
Để hạn chế bệnh nhân phơi nhiễm với DEHP [bis (2-ethylhexyl) phthalat] nhiễm từ túi nhựa PVC đựng dịch truyền, dung dịch đã pha loãng Paclitaxel phải được bảo quản trong các bao bì (thủy tinh, polyethylen) không chứa PVC hoặc làm bằng PVC và thuốc được truyền qua dây bằng polyethylen. Dụng cụ lọc (ví dụ lvex-2) có đầu vào ngắn hoặc đầu ra bằng PVC không làm giải phóng có ý nghĩa DEHP.
Xử lý thuốc: paclitaxel không dùng đến và tất cả các dụng cụ được sử dụng để chuẩn bị và truyền paclitaxel hoặc đã tiếp xúc với paclitaxel cần phải được xử lý theo các hướng dẫn quốc gia/địa phương về xử lý các chất độc.

Thận trọng lúc dùng

Paclitaxel chỉ được sử dụng dưới sự giám sát chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm về hóa học liệu pháp chống ung thư. Do có thể gặp các phản ứng quá mẫn cho nên cần có các thiết bị hỗ trợ thích hợp.
Do có khả năng thoát mạch, thuốc được khuyến cáo phải theo dõi chặt chẽ sự thâm nhiễm có thể xảy ra tại vị trí truyền.
Trước khi dùng paclitaxel, cần phải dùng trước cho bệnh nhân các thuốc corticoid, kháng histamin, thuốc đối kháng H2 (xem mục Liều lượng và cách dùng), khi phối hợp với cisplatin, phải dùng paclitaxel trước cisplatin (xem mục Tương tác).
Các phản ứng quá mẫn rõ rệt có đặc điểm khó thở, hạ huyết áp thì cần phải điều trị, có thể phù mạch và mày đay lan tỏa, thường gặp ở <1% bệnh nhân dùng paclitaxel sau khi đã dùng trước đó các thuốc thích hợp. Các phản ứng này có thể do trung gian histamin. Nếu gặp các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng cần ngưng truyền paclitaxel ngay lập tức, bắt đầu điều trị triệu chứng và bệnh nhân không nên dùng các loại thuốc nữa.
Suy tủy xương (trước hết là giảm bạch cầu trung tính) có độc tính tùy thuộc liều lượng. Trong thời gian truyền paclitaxel, cần luôn luôn theo dõi công thức máu. Bệnh nhân không được dùng lại thuốc cho đến khi bạch cầu trung tính đạt mức ≥1.500/mm3 (≥1.000/mm3 cho bệnh nhân KS) và tiểu cầu đạt mức ≥100.000/mm3 (≥75.000/mm3 cho bệnh nhân KS). Trong nghiên cứu lâm sàng KS, phần lớn các bệnh nhân sử dụng yếu tố kích thích tăng sinh dòng bạch cầu hạt nội sinh (G-CSF).
Bệnh nhân suy gan có thể có nguy cơ gặp độc tính cao hơn, đặc biệt là suy tủy mức độ 3-4. Không có bằng chứng cho thấy độc tính của paclitaxel tăng lên khi tiêm truyền trong 3 giờ cho bệnh nhân có rối loạn chức năng gan nhẹ. Khi paclitaxel được truyền tĩnh mạch lâu hơn, hiện tượng suy tủy nặng hơn có thể thấy ở bệnh nhân suy gan mức độ vừa đến nặng. Cần phải kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của suy tủy (xem mục Liều lượng và cách dùng). Không có dữ liệu về khuyến cáo thay đổi liều ở bệnh nhân suy gan mức độ vừa đến nặng (xem mục Dược động học).
Không có dữ liệu về bệnh nhân bị ứ mật nặng. Bệnh nhân suy gan nặng không nên dùng paclitaxel.
Bất thường nghiêm trọng về dẫn truyền tim hiếm gặp trong đơn trị liệu paclitaxel, nhưng nếu bệnh nhân bị bất thường rõ rệt về dẫn truyền tim trong thời kỳ dùng paclitaxel cần có biện pháp điều trị thích hợp và luôn luôn theo dõi tim khi tiếp tục dùng paclitaxel. Khi dùng paclitaxel, có gặp hạ huyết áp hoặc tăng huyết áp, nhịp tim chậm, thường bệnh nhân không có triệu chứng và thường không cần điều trị. Cần theo dõi thường xuyên dấu hiệu sống, đặc biệt nghiêm trọng trong giờ đầu khi truyền paclitaxel. Các hiện tượng nghiêm trọng về tim mạch hay gặp hơn ở bệnh nhân NSCLC là với bệnh nhân ung thư biểu mô vú hoặc buồng trứng. Một trường hợp suy tim có liên quan tới paclitaxel được phát hiện trong một nghiên cứu lâm sàng về AIDS-KS.
Khi sử dụng phối hợp paclitaxel với doxorubicin hoặc trastuzumab trong hóa trị ban đầu ung thư vú di căn, nên chú ý theo dõi chức năng tim. Khi bệnh nhân được chỉ định điều trị paclitaxel trong những phối hợp thuốc này, họ cần phải được đánh giá về tim mạch về cơ bản bao gồm tiền sử, thăm khám lâm sàng, ECG, siêu âm tim và/hoặc scan MUGA. Chức năng tim nên được theo dõi chặt chẽ hơn trong suốt quá trình điều trị (ví dụ 3 tháng 1 lần). Việc giám sát có thể giúp nhận biết bệnh nhân bị rối loạn chức năng tim và bác sĩ điều trị nên có đánh giá kĩ lưỡng về liều tích lũy của anthracyclin điều trị (mg/m2) khi đưa ra quyết định về tần suất đánh giá chức năng tâm thất. Cần đánh giá về sự suy giảm chức năng tim, ngay cả khi không có triệu chứng, các bác sĩ điều trị nên đánh giá cẩn thận lợi ích lâm sàng của các liệu pháp điều trị hơn là khả năng gây ra tổn thương trên tim mạch bao gồm cả những tổn thương có thể không phục hồi lại được. Nếu có thêm các liệu pháp điều trị, việc kiểm soát chức năng tim nên được tiến hành thường xuyên hơn (ví dụ sau mỗi 1-2 đợt điều trị). Để biết thêm thông tin, để nghị xem Tóm tắt đặc tính sản phẩm của Herceptin® hoặc doxorubicin.
Mặc dầu hay gặp bệnh thần kinh ngoại biên, nhưng ít gặp các triệu chứng nghiêm trọng. Trong một số trường hợp nặng, khuyến cáo giảm 20% liều lượng (25% cho bệnh nhân KS) trong tất cả những lần dùng tiếp theo của paclitaxel. Với bệnh nhân NSCLC và bệnh nhân ung thư buồng trứng được điều trị ban đầu, việc phối hợp truyền tĩnh mạch paclitaxel trong 3 giờ với cisplatin sẽ làm tăng tỷ lệ độc tính nặng với thần kinh khi so với dùng đơn độc paclitaxel và điều trị cyclophosphamid sau khi dùng cisplatin.
Đặc biệt cẩn trọng để tránh tiêm paclitaxel vào động mạch vì trong các nghiên cứu trên động vật về sự dung nạp thuốc cục bộ, các phản ứng mô nặng được nhận thấy sau khi tiêm vào động mạch.
Paclitaxel phối hợp với chiếu xạ phổi, không kể trình tự thời gian, có thể góp phần vào sự phát triển của viêm phổi kẽ.
Viêm kết mạc màng giả hiếm gặp bao gồm các trường hợp bệnh nhân không được điều trị phối hợp với kháng sinh. Phản ứng này nên được xem xét trong khi chẩn đoán phân biệt các trường hợp tiêu chảy nặng hoặc kéo dài xảy ra trong suốt quá trình hoặc một thời gian ngắn điều trị bằng paclitaxel.
Ở bệnh nhân KS hiếm gặp viêm niêm mạc nặng. Nếu các phản ứng nghiêm trọng xảy ra, liều của paclitaxel nên giảm xuống 25%.
Do paclitaxel chứa ethanol (396 mg/mL) cho nên có thể gặp các tác dụng trên thần kinh trung ương và các tác dụng khác.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy
Chưa có chứng minh về ảnh hưởng của paclitaxel tới khả năng này. Tuy nhiên, nên thận trọng do sản phẩm có chứa alcohol.

Quá Liều

Chưa có thuốc giải độc khi dùng quá liều paclitaxel.
Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ. Điều trị cần được hướng vào các độc tính chính được dự đoán trước, trong đó bao gồm ức chế tủy xương, nhiễm độc thần kinh ngoại vi và viêm niêm mạc.
Quá liều ở bệnh nhi có thể được liên quan đến độc tính cấp của ethanol.

Chống chỉ định

Chống chỉ định paclitaxel ở bệnh nhân có tiền sử các phản ứng quá mẫn cảm nghiêm trọng với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần khác của chế phẩm, đặc biệt với dầu thầu dầu polyoxyl (xem mục Thận trọng lúc dùng).
Paclitaxel chống chỉ định cho phụ nữ con bú (xem mục Sử dụng ở phụ nữ mang thai và cho con bú) và không dùng paclitaxel ở người có lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở mức cơ bản <1.500/mm3 (<1.000/mm3 cho bệnh nhân KS).
Paclitaxel cũng bị chống chỉ định cho bệnh nhân KS bị nhiễm khuẩn nặng, không kiểm soát được.
Bệnh nhân suy gan nặng không nên điều trị với paclitaxel.

Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú

Không có thông tin về sử dụng paclitaxel ở người mang thai. Paclitaxel được chỉ ra là gây độc cho phôi thai và gây quái thai ở thỏ, và gây giảm khả năng sinh sản ở chuột.
Cũng như các thuốc độc với tế bào khác, paclitaxel có thể gây hại cho thai khi sử dụng ở phụ nữ có thai. Vì vậy, không nên sử dụng paclitaxel trong quá trình mang thai trừ khi thật cần thiết. Phụ nữ có khả năng có thai mà đã dùng paclitaxel nên được khuyên để tránh mang thai và cần phải thông báo cho bác sĩ điều trị ngay khi mang thai.
Bệnh nhân nam và nữ trong độ tuổi sinh đẻ và/hoặc đối tác của họ nên sử dụng biện pháp tránh thai ít nhất 6 tháng sau khi điều trị với paclitaxel.
Bệnh nhân nam nên tìm tư vấn về việc dự trữ tinh trùng trước khi điều trị với paclitaxel vì khả năng vô sinh.
Chống chỉ định dùng paclitaxel khi cho con bú. Chưa rõ paclitaxel có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Nên ngừng cho con bú trong quá trình điều trị.

Tương tác

Độ thanh thải của paclitaxel không bị ảnh hưởng khi dùng cimetidin trước đó.
Chế độ liều khuyến cáo của paclitaxel trong hóa trị liệu ban đầu cho ung thư buồng trứng là cho paclitaxel dùng trước cisplatin. Khi paclitaxel được dùng trước cisplatin, đặc tính an toàn của paclitaxel tương đương với tính an toàn khi dùng paclitaxel đơn độc. Khi paclitaxel được dùng sau cisplatin, nhận thấy bệnh nhân bị suy tủy nặng hơn và giảm gần 20% độ thanh thải. Bệnh nhân điều trị bằng paclitaxel và cisplatin có thể có nguy cơ bị suy thận cao hơn so với dùng cisplatin đơn độc trong các ung thư phụ khoa.
Do hoạt động thải trừ của doxorubicin và các chất chuyển hóa có hoạt tính của nó có thể bị giảm khi paclitaxel và doxorubicin được điều trị trong thời gian gần nhau, do đó paclitaxel dùng trong hóa trị ban đầu cho ung thư vú di căn nên được dùng 24 giờ sau khi dùng doxorubicin (xem mục Dược động học).
Chuyển hóa của paclitaxel được xúc tác một phần qua cytocrom P450 (isoenzym CYP2C8 và 3A4) (xin đọc mục Dược động học). Nghiên cứu lâm sàng chứng minh rằng paclitaxel chuyển hóa thông qua CYP2C8 tạo thành 6-α-hydroxypaclitaxel, là con đường chuyển hóa chính paclitaxel ở người. Khi dùng phối hợp với ketoconazol, cũng là một chất chuyển hóa thông qua CYP3A4, nó không ức chế sự đào thải của paclitaxel ở bệnh nhân, vì vậy có thể dùng chung 2 thuốc này mà không cần điều chỉnh liều. Còn thiếu dữ liệu về hiệu lực của tương tác thuốc giữa paclitaxel với các cơ chất khác hoặc với các chất ức chế CYP3A4. Vì vậy cần thận trọng khi dùng paclitaxel cùng các cơ chất hoặc các chất ức chế của CYP2C8 hoặc 3A4 quen thuộc (như erythromycin, fluoxetin, gemfibrozil) hoặc cảm ứng (như rifampicin, carbamazepin, phenytoin, phenobarbital, efavirenz, nevirapin).
Các nghiên cứu trên bệnh nhân KS dùng rất nhiều thuốc cùng một lúc gợi ý rằng độ thanh thải toàn thân của paclitaxel thấp hơn rõ rệt khi có mặt nelfinavir và ritonavir, nhưng không phải với indinavir. Không có thông tin đầy đủ về tương tác với các chất ức chế protease khác. Vì vậy, paclitaxel nên được chỉ định cẩn trọng ở bệnh nhân điều trị đồng thời với các thuốc ức chế protease.

Tác dụng ngoại ý

Trừ trường hợp có lưu ý, những bàn luận sau đây đề cập đến cơ sở dữ liệu về độ an toàn chung của khoảng 812 bệnh nhân có khối u rắn điều trị paclitaxel đơn trị liệu trong các nghiên cứu lâm sàng. Vì nhóm bệnh nhân KS rất đặc biệt cho nên một phần riêng dựa trên 100 bệnh nhân nghiên cứu được đưa ra cuối mục này.
Tần suất và mức độ nặng của các tác dụng không mong muốn nhìn chung là tương tự giữa các bệnh nhân dùng paclitaxel cho điều trị bệnh nhân ung thư buồng trứng, ung thư vú, hoặc NSCLC. Không có liên quan giữa tuổi tác và độ nặng của tác dụng phụ.
Phản ứng quá mẫn rõ rệt và có khả năng gây tử vong (được xác định là cần thiết can thiệp điều trị hạ huyết áp, phù mạch, suy hô hấp cần can thiệp điều trị giãn phế quản, hoặc mề đay lan tỏa) xảy ra trên 2 bệnh nhân (<1%). 34% bệnh nhân (17% trên tổng số các nghiên cứu) gặp các phản ứng mẫn cảm nhẹ. Các phản ứng mẫn cảm nhẹ, chủ yếu là đỏ bừng và phát ban, không cần can thiệp điều trị cũng như không ảnh hưởng đến việc tiếp tục duy trì điều trị với paclitaxel. Tác dụng phụ thường gặp nhất là suy tủy xương. Hiện tượng giảm bạch cầu trung tính nặng (<500 tế bào/mm3) xuất hiện ở 28% bệnh nhân, nhưng không liên quan đến triệu chứng sốt thành đợt. Chỉ 1% số bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng ≥7 ngày. Giảm tiểu cầu xuất hiện trên 11% bệnh nhân. 3% bệnh nhân có số tiểu cầu thấp nhất< 50.000/mm3 ít nhất 1 lần trong nghiên cứu. Thiếu máu xuất hiện trên 64% bệnh nhân nhưng mức độ nặng (Hb < 5mmol/L) chỉ có trên 6% bệnh nhân. Tỉ lệ mắc và mức độ thiếu máu có liên quan đến tình trạng hemoglobin cơ bản.
Độc tính thần kinh, chủ yếu là bệnh thần kinh ngoại vi, có vẻ thường gặp và nặng hơn khi tiêm truyền 175 mg/m2 paclitaxel trong 3 giờ (85% độc thần kinh, 15% nặng) so với truyền tĩnh mạch 135 mg/m2 trong 24 giờ (25% bị bệnh thần kinh ngoại vi, 3% nặng) trong phối hợp với cisplatin. Ở bệnh nhân NSCLC và bệnh nhân ung thư buồng trứng điều trị paclitaxel trong 3 giờ sau đó dùng cisplatin, tỉ lệ mắc độc tính thần kinh nặng tăng lên rõ rệt. Bệnh thần kinh ngoại vi có thể xảy ra sau đợt điều trị đầu tiên và có thể nặng hơn khi tiếp tục dùng paclitaxel. Bệnh thần kinh ngoại vi là nguyên nhân ngừng sử dụng paclitaxel trong một số ít trường hợp. Các triệu chứng về cảm giác thường được cải thiện và hồi phục trong vòng một vài tháng sau khi ngừng điều trị paclitaxel. Các bệnh thần kinh có từ trước do các liệu pháp điều trị trước đó không phải là một chống chỉ định của liệu pháp điều trị bằng paclitaxel.
Chứng đau khớp hoặc đau cơ ảnh hưởng đến 60% số bệnh nhân trong đó 13% bệnh nhân ở mức độ nặng.
Phản ứng tại chỗ tiêm trong khi truyền tĩnh mạch có thể dẫn đến phù cục bộ, đau, ban đỏ, và cứng; hơn nữa, thoát mạch có thể gây viêm mô tế bào. Bong da và/hoặc lột da đã được báo cáo lại, đôi khi có liên quan đến hiện tượng thoát mạch. Rối loạn sắc tố cũng có thể xảy ra. Hiện tượng tái phát các phản ứng da tại một vị trí thoát mạch trước đó sau khi dùng paclitaxel ở một vị trí khác rất hiếm khi gặp. Phương pháp điều trị đặc biệt cho các phản ứng thoát mạch chưa được làm rõ.
Trong một số trường hợp, phản ứng tại vị trí tiêm khởi phát trong quá trình truyền kéo dài hoặc xuất hiện muộn sau một tuần đến 10 ngày.
Rụng tóc đã được quan sát ở >87% bệnh nhân và xuất hiện đột ngột. Phần lớn các bệnh nhân rụng tóc có rụng tóc rõ rệt ≥50%.
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng không mong muốn không kể đến mức độ nặng có liên quan với việc điều trị tiêm truyền paclitaxel đơn trị liệu trong 3 giờ trong tình trạng di căn (khoảng 800 bệnh nhân điều trị trong các thử nghiệm lâm sàng) và như đã báo cáo trong quá trình giám sát sau khi lưu hành paclitaxel.
Tần suất gặp các tác dụng phụ được liệt kê dưới đây sử dụng qui ước sau:
Rất thường gặp (>1/10); thường gặp (>1/100 đến < 1/10); ít gặp (>1/1.000 đến < 1/100); hiếm (>1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000). Trong mỗi nhóm tần số, tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự giảm dần mức độ nghiêm trọng.
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng
Rất thường gặp: nhiễm trùng (chủ yếu là nhiễm trùng đường tiểu và đường tiêu hóa trên), với một số trường hợp có báo cáo tử vong.
Ít gặp: sốc nhiễm nhiễm trùng.
Hiếm gặp: nhiễm khuẩn*, viêm phúc mạc*, viêm phổi*.
Rối loạn máu và hệ thống bạch huyết
Rất thường gặp: suy tủy, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, chảy máu.
Hiếm gặp: giảm bạch cầu trung tính gây sốt.
Rất hiếm gặp: ung thư bạch cầu dạng tủy cấp*, hội chứng loạn sản tủy*.
Chưa biết: đông máu rải rác nội mạch.
Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC), thường liên quan đến nhiễm khuẩn huyết hay suy đa tạng đã được báo cáo.
Rối loạn hệ thống miễn dịch
Rất thường gặp: các phản ứng mẫn cảm nhẹ (chủ yếu là đỏ bừng và phát ban).
Ít gặp: các phản ứng mẫn cảm rõ rệt cần phải điều trị (như hạ huyết áp, phù nề mạch thần kinh, tình trạng hô hấp nguy cấp, mày đay lan tỏa, rét run, đau lưng, đau ngực, tim nhịp nhanh, đau bụng, đau ở chi, toát mồ hôi và tăng huyết áp).
Hiếm gặp: các phản ứng phản vệ*.
Rất hiếm gặp: sốc phản vệ*.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rất hiếm gặp: chán ăn*.
Chưa biết: hội chứng ly giải khối u*.
Rối loạn tâm thần
Rất hiếm gặp: lẫn lộn*.
Rối loạn hệ thống thần kinh
Rất thường gặp: độc tính thần kinh (thường là bệnh thần kinh ngoại vi).
Hiếm gặp: bệnh thần kinh vận động (yếu cơ ngoại biên nhỏ)*.
Rất hiếm gặp: động kinh cơn lớn*, bệnh thần kinh tự chủ (dẫn đến tắc liệt ruột và hạ huyết áp thế đứng)*, bệnh não*, co giật*, chóng mặt*, mất điều vận, đau đầu*.
Rối loạn về mắt
Rất hiếm gặp: rối loạn dây thần kinh thị giác và/hoặc tầm nhìn (ám điểm nhấp nháy) ở bệnh nhân được điều trị liều cao hơn so với khuyến cáo.
Chưa biết: phù hoàng điểm*, hoa mắt*, hiện tượng ruồi bay*.
Rối loạn về tai và mê đạo
Rất hiếm gặp: độc với thính giác*, nghe kém*, ù tai*, chóng mặt*.
Rối loạn tim mạch
Thường gặp: nhịp tim chậm.
Ít gặp: nhồi máu cơ tim, chẹn AV và ngất, bệnh cơ tim, nhịp nhanh thất không có triệu chứng, nhịp nhanh thất với mạch nhịp đôi.
Hiếm gặp: suy tim.
Rất hiếm gặp: rung nhĩ*, nhịp tim nhanh trên thất*.
Rối loạn mạch
Rất phổ biến: Hạ huyết áp.
Ít gặp: Huyết khối, tăng huyết áp, viêm tĩnh mạch huyết khối.
Rất hiếm: sốc*.
Chưa rõ: Viêm tĩnh mạch*.
Rối loạn hô hấp, ở ngực và trung thất
Hiếm gặp: suy hô hấp*, nghẽn mạch phổi*, xơ hóa phổi*, viêm phổi kẽ*, khó thở*, tràn dịch màng phổi*.
Rất hiếm: ho*.
Rối loạn dạ dày ruột
Rất thường gặp: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, viêm niêm mạc.
Hiếm gặp: tắc ruột*, thủng ruột*, viêm kết tràng thiếu máu cục bộ*, viêm tụy*.
Rất hiếm: huyết khối mạc treo ruột*, viêm kết tràng màng giả*, viêm kết tràng giảm bạch cầu trung tính*, cổ trướng*, viêm thực quản*, táo bón*.
Rối loạn gan mật
Rất hiếm: hoại tử gan*, bệnh não gan* (cả 2 đều có trường hợp báo cáo tử vong).
Rối loạn da và mô dưới da
Rất thường gặp: rụng lông tóc.
Thường gặp: Thay đổi trên da và móng nhẹ và tạm thời.
Hiếm gặp: mẩn ngứa*, phát ban*, ban đỏ*.
Rất hiếm: hội chứng Stevens-Johnson*, hoại tử biểu bì*, ban đỏ đa hình*, tróc vảy*, viêm da*, mày đay*, bong móng (bệnh nhân được điều trị nên mặc đồ chống ánh sáng mặt trời ở tay và chân*).
Chưa biết: xơ cứng bì.
Rối loạn xương, mô liên kết và cơ xương
Rất thường gặp: đau cơ, đau khớp.
Chưa biết: lupus ban đỏ hệ thống*.
Rối loạn toàn thân và rối loạn tại chỗ tiêm
Thường gặp: phản ứng tại chỗ tiêm (bao gồm phù cục bộ, đau, ban đỏ, cứng, thoát mạch dẫn đến viêm mô tế bào, xơ hóa da và hoại tử da).
Hiếm gặp: sốt*, mất nước*, suy nhược*, phù*, khó chịu*.
Xét nghiệm
Thường gặp: tăng AST cao (SGOT), alkalin phosphatase tăng cao.
Ít gặp: bilirubin tăng cao.
Hiếm gặp: tăng creatinin máu*.
Bệnh nhân ung thư vú điều trị paclitaxel hỗ trợ sau liệu pháp điều trị AC cho thấy độc tính trên thần kinh cảm giác, các phản ứng quá mẫn, đau cơ/đau khớp, thiếu máu, nhiễm trùng, sốt, buồn nôn/nôn và tiêu chảy nhiều hơn là bệnh nhân chỉ điều trị AC. Tuy nhiên, tần suất gặp các tác dụng phụ này phù hợp với việc điều trị bằng paclitaxel đơn độc, như đã trình bày ở trên.
Điều trị phối hợp
Những bàn luận sau đây đề cập đến những thử nghiệm lâm sàng trong điều trị đầu tay ung thư buồng trứng (paclitaxel + cisplatin: trên 1050 bệnh nhân), 2 thử nghiệm pha III trong điều trị ban đầu ung thư vú di căn: một nghiên cứu về sự phối hợp với doxorubicin (paclitaxel + doxorubicin: 267 bệnh nhân), một thử nghiệm nghiên cứu về sự phối hợp với trastuzumab (phân tích phân nhóm paclitaxel + trastuzumab: 188 bệnh nhân) và 2 thử nghiệm pha III cho điều trị NSLC tiến triển (paclitaxel + cisplatin: trên 360 bệnh nhân) (xem mục Dược động học). Khi truyền tĩnh mạch trong 3 giờ cho điều trị ban đầu ung thư buồng trứng, độc tính thần kinh, đau cơ/đau khớp, và mẫn cảm ở bệnh nhân điều trị paclitaxel sau đó dùng cisplatin có tần xuất gặp cao hơn và nặng hơn ở bệnh nhân điều trị cyclophosphamid sau đó dùng cisplatin. Hiện tượng suy tủy khi truyền tĩnh mạch paclitaxel trong 3 giờ sau khi dùng cisplatin ít gặp hơn và nhẹ hơn so với dùng cyclophosphamid sau đó dùng cisplatin.
Trong điều trị hóa trị liệu đầu tay cho ung thư vú di căn, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, bệnh thần kinh ngoại vi, đau cơ/đau khớp, suy nhược, sốt, và tiêu chảy được báo cáo là có tần suất gặp cao hơn và nặng hơn khi truyền tĩnh mạch paclitaxel (220 mg/m2) trong 3 giờ cách 24 giờ sau khi tiêm truyền doxorubicin (50 mg/m2) so với liệu pháp FAC chuẩn (5-FU 500 mg/m2, doxorubicin 50 mg/m2, cyclophosphamid 500 mg/m2). Buồn nôn và nôn trong chế độ paclitaxel (220 mg/m2) / doxorubicin (50 mg/m2) ít gặp hơn và nhẹ hơn so với liệu pháp FAC chuẩn. Việc sử dụng corticosteroid có thể góp phần làm giảm tần suất và mức độ nặng của nôn và buồn nôn của liệu trình paclitaxel/doxorubicin.
Khi paclitaxel truyền tĩnh mạch trong 3 giờ phối hợp với trastuzumab trong điều trị đầu tay cho bệnh nhân ung thư vú di căn, những tác dụng phụ sau (có thể có liên quan tới paclitaxel hoặc trastuzumab) được báo cáo là thường gặp hơn so với paclitaxel đơn trị liệu: suy tim (8% so với 1%), nhiễm trùng (46% so với 27%), rét run (42% so với 4%), sốt (47% so với 23%), ho (42% so với 22%), phát ban (39% so với 18%), đau khớp (37% so với 21%), tim đập nhanh (12% so với 4%), tiêu chảy (45% so với 30%), tăng trương lực (11% so với 3%), chảy máu cam (18% so với 4%), viêm nang lông (11% so với 3%), herpes (12% so với 3%), tổn thương do tai nạn (13% so với 3%), mất ngủ (25% so với 13%), viêm mũi (22% so với 5%), viêm xoang (21% so với 7%), và phản ứng tại chỗ tiêm (7% so với 1%). Một số trường hợp trong những khác biệt này có thể là do số lượng và khoảng thời gian điều trị phối hợp paclitaxel/trastuzumab tăng so với paclitaxel đơn trị liệu. Một số phản ứng nặng được ghi lại có cùng tỉ lệ ở cả 2 nhóm paclitaxel/trastuzumab và điều trị paclitaxel đơn trị liệu.
Khi doxorubicin dùng phối hợp với paclitaxel trong ung thư vú di căn, đã quan sát thấy co cơ tim bất thường (giảm ≥ 20% tỉ lệ tống máu tâm thất trái) trên 15% bệnh nhân so với 10% bệnh nhân dùng phác đồ FAC tiêu chuẩn. Suy tim xung huyết được nhận thấy ở < 1% số bệnh nhân cho cả 2 nhóm paclitaxel/doxorubicin và FAC tiêu chuẩn. Việc điều trị trastuzumab trong phối hợp với paclitaxel cho bệnh nhân trước đó đã điều trị bằng các anthracyclin làm tăng tần số và mức độ của rối loạn chức năng tim so với bệnh nhân điều trị paclitaxel đơn độc (NYHA loại I/II 10% so với 0%; NYHA loại III/IV 2% so với 1%) và hiếm có liên quan đến tử vong (xem tóm tắt đặc tính của trastuzumab). Trong tất cả các trường hợp trừ một số hiếm trường hợp, bệnh nhân có đáp ứng với điều trị y tế thích hợp.
Viêm phổi do chiếu xạ được báo cáo ở bệnh nhân điều trị cùng lúc với xạ trị.
Sarcom Kaposi có liên quan đến AIDS
Trừ các tác dụng phụ trên gan và máu (xem dưới đây), tần suất và mức độ gặp các tác dụng phụ là tương tự giữa nhóm bệnh nhân KS và bệnh nhân điều trị paclitaxel đơn trị liệu cho các khối u rắn, dựa trên một nghiên cứu lâm sàng bao gồm 107 bệnh nhân.
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: suy tủy xương là một độc tính chủ yếu phụ thuộc vào liều. Giảm bạch cầu trung tính là độc tính quan trọng nhất trên máu. Trong suốt đợt điều trị đầu tiên, chứng giảm bạch cầu trung tính nặng (<500 tế bào/mm3) xảy ra trên 20% bệnh nhân. Trong toàn bộ quá trình điều trị, chứng giảm bạch cầu trung tính nặng nhận thấy trên 39% số bệnh nhân. Giảm bạch cầu trung tính tồn tại > 7 ngày trên 41% và trong 30-35 ngày trên 8% bệnh nhân. Nó hồi phục trong vòng 35 ngày ở tất cả các bệnh nhân được theo dõi. Tỉ lệ mắc giảm bạch cầu trung tính mức độ 4 kéo dài ≥ 7 ngày là 22%.
Sốt do giảm bạch cầu trung tính có liên quan đến paclitaxel được ghi lại trên 14% số bệnh nhân và trong 1,3% số đợt điều trị. Có 3 trường hợp bị nhiễm khuẩn (2,8%) trong khi dùng paclitaxel có liên quan đến thuốc gây tử vong.
Giảm tiểu cầu được nhận thấy trên 50% bệnh nhân, và nặng (< 50.000 tế bào/mm3) trên 9%. Chỉ 14% bị giảm tiểu cầu xuống < 75.000 tế bào/mm3, ít nhất một lần trong khi điều trị. Hiện tượng chảy máu có liên quan đến paclitaxel được báo cáo < 3% số bệnh nhân, nhưng xuất huyết được khu trú.
Thiếu máu (Hb < 11g/dL) nhận thấy trên 61% bệnh nhân và nặng (Hb < 8 g/dL) trên 10%. Truyền máu được yêu cầu trên 21% bệnh nhân.
Rối loạn gan mật: Trong số các bệnh nhân (> 50% có dùng thuốc ức chế protease) có chức năng gan bình thường, 28%, 43% và 44% có biểu hiện bilirubin, alkalin phosphatase và AST (SGOT) tương ứng. Với mỗi thông số này, mức độ tăng nặng trên 1% số bệnh nhân.

Bảo quản

Không bảo quản trên 30°C, tránh để đông lạnh, giữ nguyên trong hộp để tránh ánh sáng.
Sử dụng trong vòng 28 ngày kể từ khi mở nắp lọ.
Về mặt hóa học và vật lý, sản phẩm ổn định ở nhiệt độ phòng trong vòng 28 ngày sau khi mở nắp lọ. Khuyến cáo sử dụng sản phẩm ngay sau khi rút thuốc ra khỏi lọ. Tuy nhiên về mặt vi sinh, sản phẩm có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong vòng 28 ngày sau khi rút thuốc lần đầu.
Thời gian bảo quản tối đa của dung dịch truyền paclitaxel đã pha trong dung dịch glucose 5% và natri clorid 0,9% là 2 tuần nếu bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 5°C ± 3°C.
Thời gian bảo quản tối đa của dung dịch truyền paclitaxel đã pha trong dung dịch glucose 5% là 1 tuần nếu bảo quản ở nhiệt độ phòng (20°C ± 3°C), không tránh ánh sáng.
Thời gian bảo quản tối đa của dung dịch truyền paclitaxel đã pha trong dung dịch natri clorid 0,9% là 5 ngày nếu bảo quản ở nhiệt độ phòng, không tránh ánh sáng.
Về mặt vi sinh vật học, cần dùng ngay lập tức dung dịch đã pha chế. Nếu không thể sử dụng ngay được thì thời gian bảo quản và các điều kiện để sử dụng thuộc trách nhiệm của người dùng.

Phân loại ATC

L01CD01

Trình bày/Đóng gói

Dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền: hộp 1 lọ 5mL, hộp 1 lọ 16,7mL.

A