Yaz

Nhà sản xuất

Bayer Pharma AG

Nhà tiếp thị

Bayer (South East Asia)

Thành phần

24 viên màu hồng nhạt, mỗi viên: Ethinylestradiol (dạng Betadex clathrate) 0.02mg, drospirenone 3mg.
4 viên màu trắng không có hormon.

Mô tả

Viên thuốc chứa hormon có màu hồng nhạt, tròn với các mặt lồi, một mặt đánh dấu các ký tự “DS” trong hình lục giác đều.
Viên thuốc không có hormon có màu trắng, tròn với các mặt lồi, một mặt đánh dấu các ký tự “DP” trong hình lục giác đều.

Dược lực học

Tác dụng tránh thai của COCs được dựa trên sự tương tác của nhiều nhân tố, yếu tố được xem là quan trọng nhất là ức chế phóng noãn và thay đổi chất nhày cổ tử cung.
Đồng thời với tác dụng chống giữ muối nước (kháng mineralocorticoid) và tác dụng chống nam hóa (kháng androgenic), thuốc cũng mang lại lợi ích cho những phụ nữ bị giữ nước liên quan đến hormon và các triệu chứng do giữ nước gây ra.

Dược động học

Drospirenone
- Hấp thu: Drospirenone hấp thu gần như hoàn toàn và nhanh chóng qua đường uống. Nồng độ tối đa của thuốc trong huyết thanh là khoảng 35ng/mL, đạt được sau khi uống từ 1-2 giờ. Sinh khả dụng khoảng từ 76% tới 85%. Thức ăn không ảnh hưởng tới sinh khả dụng của Drospirenone so với khi uống thuốc vào lúc đói.
- Phân bố: Sau khi uống thuốc, các mức Drospirenone huyết thanh giảm trong 2 giai đoạn, với thời gian bán thải (t1/2) lần lượt là 1,6±0,7 giờ và 27±7,5 giờ. Drospirenone gắn kết với albumin huyết thanh và không liên kết với SHBG và CBF. Chỉ có từ 3-5% nồng độ thuốc toàn phần trong huyết thanh là tồn tại ở dạng steroid tự do. SHBG tăng do ethinylestradiol không ảnh hưởng đến các protein huyết thanh gắn kết với Drospirenone. Thể tích phân bố của Drospirenone là 3,7±1,2l/kg.
- Chuyển hóa: Drospirenone được chuyển hóa rộng rãi sau khi uống. Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương gồm dạng acid của Drospirenone được tạo ra bằng cách mở vòng lacton và 4,5-dihydro-drospirenone-3sulphat, được hình thành qua quá trình giáng hóa và tiếp sau đó là sulphate hóa. Drospirenone cũng được chuyển hóa bởi quá trình oxi hóa xúc tác bởi CYP3A4.
- Thải trừ: Tỷ lệ thanh thải chất chuyển hóa của Drospirenone trong huyết thanh là 1,5±0,2mL/phút/kg. Drospirenone dạng chưa biến đổi được bài tiết chỉ ở dạng vết. Các chất chuyển hóa của Drospirenone được bài tiết qua phân và nước tiểu với tỷ số bài tiết là khoảng 1,2 tới 1,4. t1/2 của chất chuyển hóa trong phân và nước tiểu là khoảng 40 giờ.
Các trạng thái ổn định: Trong chu kỳ điều trị, nồng độ ổn định tối đa lớn nhất của Drospirenone trong huyết thanh là 60ng/mL đạt được vào ngày thứ 7 và ngày thứ 14 của điều trị. Nồng độ Drospirenone huyết thanh tích lũy từ khoảng 2 tới 3 như hệ quả của tỉ số t1/2 giai đoạn cuối và khoảng thời gian dùng thuốc. Nồng độ Drospirenone tích lũy thêm ngoài chu kỳ điều trị quan sát được ở giữa chu kỳ 1 và chu kỳ 6. Nhưng sau đó, không có sự tích lũy thêm nào quan sát được.
Nhóm đối tượng đặc biệt
+ Tác dụng trên bệnh nhân suy thận: Nồng độ Drospirenone ổn định trong huyết thanh ở phụ nữ suy thận nhẹ (creatinine clearance CLcr: 50-80mL/phút) đã được so sánh với những phụ nữ có chức năng thận bình thường (CLcr > 80mL/phút). Nồng độ Drospirenone huyết thanh trung bình cao hơn 37% ở những phụ nữ suy thận vừa phải (CLcr: 30-50mL/phút) so với những phụ nữ có chức năng thận bình thường. Drospirenone điều trị dung nạp tốt ở tất cả các nhóm bệnh nhân. Drospirenone điều trị đã không cho thấy bất cứ tác dụng nào có ý nghĩa lâm sàng trên nồng độ kali huyết thanh.
Tác dụng trên bệnh nhân suy gan: Ở những phụ nữ có chức năng gan trung bình, (Child-Pugh B) có nghĩa là nồng độ Drospirenone huyết thanh trong dữ liệu theo thời gian tương đương với những phụ nữ có chức năng gan bình thường trong pha hấp thu/phân bố với giá trị Cmax tương tự. Giá trị t1/2 cuối của Drospirenone ở những người tình nguyện suy gan trung bình là lớn hơn 1,8 lần so với những người tình nguyện có chức năng gan bình thường.
Độ thanh thải đường uống giảm rõ khoảng 50% (Cl/f) được thấy ở những người tình nguyện có suy gan trung bình với những người có chức năng gan bình thường. Sự suy giảm độ thanh thải Drospirenone quan sát được ở những người tình nguyện suy gan trung bình so với các tình nguyện bình thường không áp dụng cho các thông số khác như nồng độ kali huyết thanh giữa 2 nhóm tình nguyện viên. Ngay cả khi có bệnh tiểu đường và điều trị đồng thời với Spironolactone (2 tác nhân có thể làm tăng kali huyết) thì sự tăng nồng độ kali huyết thanh trên mức giới hạn bình thường đã không được ghi nhận. Do đó có thể kết luận được rằng Drospirenone dung nạp tốt ở những bệnh nhân suy gan nhẹ và vừa (Child-Pugh B).
Chủng tộc: Ảnh hưởng của yếu tố chủng tộc trên dược động học của Drospirenone và Ethinylestradiol đã được nghiên cứu khi cho uống liều đơn, lặp lại hàng ngày trên những phụ nữ da trắng và Nhật Bản khỏe mạnh. Kết quả cho thấy sự khác biệt chủng tộc giữa phụ nữ Nhật Bản và da trắng không có ảnh hưởng lâm sàng liên quan tới dược động học của Drospirenone và ethinylestradiol.
Ethinylestradiol
- Hấp thu: Ethinylestradiol đường uống được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh là khoảng 33pg/mL đạt được trong vòng 1-2 giờ sau khi uống thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối là kết quả của sự liên hợp trước khi xâm nhập toàn thân và chuyển hóa lần đầu là khoảng 60%. Sử dụng đồng thời với thức ăn làm giảm sinh khả dụng của ethinylestradiol khoảng 25% trên các đối tượng nghiên cứu, trong khi không có thay đổi nào quan sát được trên những người khác.
- Phân bố: Nồng độ ethinylestradiol huyết thanh giảm trong 2 pha, pha cuối được đặc trưng bởi t1/2 khoảng 24 giờ. Ethinylestradiol gắn kết cao nhưng không đặc hiệu với albumin huyết thanh (khoảng 98,5%) và làm tăng nồng độ SHBG trong huyết thanh. Thể tích phân bố được xác định là khoảng 5l/kg.
- Chuyển hóa: Ethinylestradiol được chuyển hóa bước một qua gan và ruột một cách đáng kể. Ethinylestradiol và chất chuyển hóa bởi quá trình oxi hóa được liên hợp với glucuronides hoặc sulfate. Tốc độ thanh thải chuyển hóa vào khoảng 5mL/phút/kg.
- Thải trừ: Ethinylestradiol dạng không thay đổi không được bài tiết, các chất chuyển hóa của ethinylestradiol được bài tiết trong nước tiểu và mật theo tỉ số 4:6. Thời gian bán thải của bài tiết chất chuyển hóa vào khoảng 1 ngày.
- Các trạng thái ổn định: Trạng thái ổn định đạt được trong nửa sau của chu kỳ điều trị và nồng độ ethinylestradiol huyết thanh tích lũy là khoảng 1,4 tới 2,1.

An toàn tiền lâm sàng

Các dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy cơ đặc biệt trên người dựa trên các nghiên cứu thông thường về độc tính liều lặp lại, khả năng gây độc gen, khả năng gây ung thư, gây độc hệ sinh sản. Tuy vậy, cần nhớ rằng các steroid sinh dục có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của một vài mô và khối u phụ thuộc hormon.

Chỉ định/Công dụng

* Tránh thai đường uống.
* Điều trị mụn trứng cá mức độ trung bình liên quan đến hormon ở những phụ nữ lựa chọn sử dụng tránh thai đường uống.
* Điều trị các triệu chứng của hội chứng PMDD (Premenstrual Dysphoric Disorder: Rối loạn tâm lý tiền hành kinh) ở những phụ nữ lựa chọn sử dụng tránh thai đường uống.

Liều lượng & Cách dùng

Cách dùng Yaz: Thuốc tránh thai đường uống kết hợp, khi được sử dụng chính xác thì tỷ lệ thất bại là khoảng 1%/năm. Tỷ lệ thất bại có thể tăng lên khi quên uống thuốc hoặc sử dụng không chính xác.
Thuốc phải được uống theo đúng thứ tự chỉ dẫn trên bao bì vào cùng một thời điểm hàng ngày, có thể sử dụng thêm nước nếu cần thiết. Thuốc cần được uống liên tục, mỗi ngày một viên trong 28 ngày liên tiếp. Mỗi vỉ tiếp theo được bắt đầu vào ngày hôm sau khi hết viên cuối cùng của vỉ trước.
Cách bắt đầu với Yaz: Thuốc được uống vào ngày thứ 1 của chu kỳ kinh nguyệt ở người phụ nữ (tức là ngày đầu tiên chảy máu).
Xử trí khi quên uống thuốc: Nếu quên uống viên thuốc màu trắng không chứa hormone thì có thể bỏ qua. Tuy nhiên, cần bỏ những viên này đi để tránh vô tình kéo dài khoảng thời gian uống viên không chứa hormone. Lời khuyên sau đây chỉ áp dụng khi quên không uống viên thuốc màu hồng nhạt chứa hormone:
+ Nếu quên uống viên thuốc có hoạt tính không quá 24 giờ so với giờ uống thuốc hàng ngày thì tác dụng tránh thai của thuốc sẽ không thay đổi. Tuy nhiên bệnh nhân nên uống viên thuốc bị quên ngay khi nhớ ra và uống viên thuốc tiếp theo như thường lệ.
+ Nếu quên uống viên thuốc có hoạt tính quá 24 giờ so với giờ uống thuốc hàng ngày thì tác dụng tránh thai có thể bị giảm đi. Xử trí viên thuốc bị quên dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau:
(1). Không bao giờ được ngừng uống thuốc quá 7 ngày (lưu ý khoảng thời gian khuyến cáo cho viên không chứa hormone là 4 ngày).
(2). Nhất thiết phải uống viên thuốc có hoạt tính liên tục 7 ngày để đạt được sự ức chế thích hợp trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng.
Hàng ngày thực hiện theo những chỉ dẫn sau đây:
+ Ngày thứ 1-7: Bệnh nhân nên uống viên thuốc bị quên ngay sau khi nhớ ra, thậm chí ngay cả khi phải uống 2 viên thuốc cùng một lúc. Sau đó tiếp tục uống các viên thuốc khác như thường lệ. Nên sử dụng thêm biện pháp bảo vệ khác như dùng bao cao su trong 7 ngày tiếp theo. Nếu có giao hợp trong 7 ngày trước đó, có thể xem xét đến khả năng có thai. Càng uống thuốc không đều thì thời gian nghỉ giữa các chu kỳ càng ngắn lại và nguy cơ có thai sẽ tăng lên.
+ Ngày thứ 8-14: Bệnh nhân nên uống viên thuốc bị quên ngay sau khi nhớ ra, thậm chí ngay cả khi phải uống 2 viên cùng một lúc. Sau đó tiếp tục uống các viên thuốc khác như thường lệ. Trong trường hợp bệnh nhân uống thuốc đúng chỉ dẫn trong 7 ngày liên tục trước khi quên thì không cần thiết phải sử dụng thêm các biện pháp tránh thai nào khác. Tuy nhiên, nếu không dùng thuốc liên tục đúng giờ như trên hoặc quên uống nhiều hơn 1 viên thuốc thì nên sử dụng thêm các biện pháp tránh thai khác trong 7 ngày.
+ Ngày thứ 15-24: Ảnh hưởng tránh thai của thuốc có thể giảm đi do gần tới khoảng thời gian nghỉ uống thuốc. Tuy nhiên, có thể ngăn chặn được nguy cơ giảm khả năng tránh thai bằng cách điều chỉnh lại lịch uống thuốc. Thực hiện đúng một trong hai lựa chọn dưới đây thì không cần thiết phải dùng thêm biện pháp tránh thai nào khác trong trường hợp bệnh nhân đã uống thuốc đúng chỉ dẫn trong suốt 7 ngày trước khi quên. Trường hợp không uống thuốc đúng giờ trong 7 ngày trước khi quên uống, thì bệnh nhân nên thực hiện theo 1 trong 2 lựa chọn dưới đây đồng thời áp dụng thêm biện pháp tránh thai khác trong 7 ngày tiếp theo.
(1). Uống viên thuốc bị quên ngay sau khi nhớ ra, ngay cả khi phải uống cả hai viên cùng một lúc. Sau đó tiếp tục uống các viên khác như thường lệ. Sau đó tiếp tục uống các viên thuốc khác như thường lệ cho tới khi uống hết các viên thuốc màu hồng nhạt. Phải bỏ 4 viên màu trắng không chứa hormone.
Bắt đầu uống vỉ thuốc mới ngay sau đó. Bệnh nhân sẽ không có hiện tượng chảy máu kinh cho đến khi kết thúc viên thuốc cuối cùng màu hồng nhạt chứa hormone của vỉ thuốc thứ hai nhưng hiện tượng ra máu bất thường hoặc chảy máu giữa kỳ có thể xuất hiện trong thời gian uống thuốc.
(2). Bệnh nhân cũng có thể ngừng uống thuốc viên màu hồng nhạt của vỉ thuốc hiện tại. Nghỉ uống thuốc 4 ngày tính cả ngày quên uống thuốc, sau đó tiếp tục uống vỉ thuốc mới.
Nếu bệnh nhân quên uống thuốc và sau đó không có kinh nguyệt trong khoảng thời gian ngừng uống thuốc đầu thì phải cân nhắc tới nguy cơ có thể có thai.
Trường hợp có rối loạn tiêu hóa: Khi có rối loạn tiêu hóa nặng sẽ làm giảm khả năng hấp thu thuốc do đó nên áp dụng thêm một biện pháp tránh thai khác trong khoảng thời gian này.
Nếu bị nôn trong khoảng từ 3 đến 4 giờ sau khi uống viên thuốc màu hồng nhạt, nên áp dụng các biện pháp theo chỉ dẫn tại mục "Xử trí khi quên uống thuốc".
Các thông tin bổ sung trên các nhóm đối tượng đặc biệt:
+ Thanh thiếu niên và trẻ em: Yaz chỉ được chỉ định sau khi có kinh nguyệt. Không có dữ liệu cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh liều lượng.
+ Bệnh nhân cao tuổi: Yaz không thích hợp. Yaz không được chỉ định sau khi mãn kinh
+ Bệnh nhân suy gan: Yaz chống chỉ định cho những phụ nữ suy gan nặng (xem thêm phần "Chống chỉ định" và "Dược động học").
+ Bệnh nhân suy thận: Yaz chống chỉ định ở những phụ nữ suy thận nặng hoặc suy thận cấp (xem thêm phần "Chống chỉ định" và "Dược động học").

Cảnh báo

Cảnh báo
Rối loạn tuần hoàn: Các nghiên cứu dịch tễ đã chỉ ra mối liên quan giữa việc sử dụng COCs với nguy cơ gia tăng bệnh huyết khối động mạch và tĩnh mạch, thuyên tắc huyết khối như nhồi máu cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc nghẽn mạch phổi, tổn thương mạch máu não. Những tai biến này hiếm khi xảy ra.
Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) là cao nhất trong năm đầu tiên sử dụng. Nguy cơ tăng lên này khi bắt đầu lần đầu sử dụng COCs hoặc bắt đầu lại (sau 4 tuần hoặc khoảng nghỉ thuốc dài) cùng một loại hoặc khác loại COCs. Từ dữ liệu đầy đủ chi tiết của nghiên cứu thuần tập, tiến cứu 3 nhánh gợi ý rằng nguy cơ tăng lên này chủ yếu xuất hiện trong 3 tháng đầu.
Nhìn chung các nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người sử dụng COCs với estrogen liều thấp (< 50μg ethinylestradiol) cao hơn từ 2 tới 3 lần những người không dùng COCs không mang thai và vẫn thấp hơn so với nguy cơ thuyên tắc do mang thai và sinh đẻ.
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong (trong 1-2% các ca).
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE), biểu hiện như huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc nghẽn mạch phổi có thể xảy ra trong quá trình sử dụng tất cả các COCs.
Rất hiếm khi huyết khối được báo cáo xảy ra ở các mạch máu khác như gan, mạc treo, thận, tĩnh mạch và động mạch võng mạc hoặc não. Không có sự nhất trí quan điểm cho dù sự xuất hiện của các trường hợp này liên quan đến sử dụng COCs.
Các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu có thể bao gồm: sưng một bên chân hoặc dọc theo tĩnh mạch chân, đau hoặc tổn thương chỉ có thể cảm nhận được khi đứng lên hoặc đi lại, tăng sức nóng ở chân bị bệnh, da chân đỏ hoặc đổi màu.
Các triệu chứng của tắc mạch phổi (PE) bao gồm: đột nhiên thở dốc hoặc thở nhanh không rõ nguyên nhân, đột nhiên ho ra máu, đau ngực có thể tăng lên khi thở sâu, cảm giác lo lắng, chóng mặt, nhịp tim nhanh hoặc bất thường, một số triệu chứng như ho, khó thở là không rõ ràng và có thể hiểu nhầm như là các trường hợp ít nghiêm trọng khác như nhiễm trùng đường hô hấp.
Thuyên tắc động mạch có thể bao gồm: tổn thương mạch máu não, tắc mạch hoặc nhồi máu cơ tim (MI). Các triệu chứng tổn thương mạch não có thể bao gồm: đột nhiên tê hoặc yếu ở mặt, tay, chân, đặc biệt là ở một bên của cơ thể. Đột nhiên nhầm lẫn, nói khó và hiểu khó. Đột ngột mất một phần hoặc hoàn toàn thị lực, song thị. Đột nhiên đi lại khó khăn, mất cân bằng hoặc phối hợp, đột nhiên nhức đầu nặng hoặc kéo dài không rõ nguyên nhân, mất ý thức hoặc ngất khi có hoặc không có động kinh. Các dấu hiệu khác của tắc mạch có thể bao gồm: đau, sưng, đổi màu xanh nhẹ ở đầu chi, đau bụng cấp.
Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim có thể bao gồm: đau, khó chịu, nặng nề, áp lực, cảm giác ép hoặc nặng ngực, tay và ở dưới xương ức, khó chịu ở phần lưng, hàm, họng, cánh tay, dạ dày. Đầy, khó tiêu, cảm giác nghẹt thở; đổ mồ hôi, buồn nôn, nôn, chóng mặt, suy yếu, lo lắng, khó thở, tim đập nhanh hoặc không đều.
Các trường hợp thuyên tắc động mạch có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong.
Khả năng làm tăng nguy cơ hiệp lực gây huyết khối nên được cân nhắc ở những phụ nữ có phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ hoặc cho thấy mức độ trầm trọng hơn của một yếu tố nguy cơ đơn lẻ. Nguy cơ tăng này có thể còn quan trọng hơn nguy cơ tích lũy của những yếu tố nguy cơ đơn giản. Không nên kê đơn thuốc COC trong trường hợp đánh giá lợi ích thấp hơn nguy cơ (xem phần "Chống chỉ định").
Tăng nguy cơ của các trường hợp thuyên tắc huyết khối động mạch, tĩnh mạch, tai biến mạch máu não với:
+ Tuổi
+ Béo phì (chỉ số khối cơ thể trên 30kg/m2)
+ Tiền sử gia đình (ví dụ như thuyên tắc huyết khối động mạch, tĩnh mạch ở anh chị em ruột, bố mẹ ở tuổi tương đối trẻ). Nếu khuynh hướng di truyền được biết đến hoặc nghi ngờ thì người phụ nữ nên được chỉ dẫn tới chuyên khoa để được tư vấn trước khi quyết định sử dụng COC.
+ Bất động lâu dài, phẫu thuật lớn, bất cứ cuộc phẫu thuật ở chân, hoặc các tổn thương lớn. Trong những trường hợp này nên ngừng sử dụng thuốc (nếu phẫu thuật chương trình thì nên ngưng thuốc trước 4 tuần) và không dùng lại cho đến 2 tuần sau khi hồi phục hoàn toàn.
+ Hút thuốc (nghiện thuốc lá càng nặng và tuổi càng cao thì nguy cơ càng cao, đặc biệt là phụ nữ trên 35 tuổi)
+ Rối loạn protein huyết
+ Tăng huyết áp
+ Đau nửa đầu
+ Bệnh van tim
+ Rung nhĩ
Chưa có sự thống nhất quan điểm về vai trò của giãn tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nông do huyết khối trong VTE.
Gia tăng nguy cơ thuyên tắc do huyết khối trong thời kỳ thai sản cần phải được xem xét (các thông tin về có thai và cho con bú xem phần "Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú").
Các trường hợp bệnh lý khác đi kèm với tai biến tuần hoàn ngoại ý bao gồm: Đái tháo đường, Lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng tăng ure máu do tán huyết, viêm ruột mãn tính (bệnh Crohn's hoặc viêm loét đại tràng) và bệnh hồng cầu hình liềm.
Tăng tần suất và mức độ nặng của các cơn đau nửa đầu trong quá trình sử dụng COC (có thể là tiền triệu của tai biến mạch máu não) cũng có thể là một lý do để ngừng ngay lập tức COC.
Các yếu tố sinh hóa chứng tỏ bẩm chất di truyền hoặc mắc phải đối với chứng huyết khối động mạch, tĩnh mạch bao gồm: đề kháng Protein C hoạt hóa (APC), tăng homocystein máu, thiếu antithrombin III, thiếu protein C, thiếu Protein S, kháng thể kháng phospholipid (kháng thể kháng cardiolipin, yếu tố lupus chống đông).
Khi phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ, các bác sỹ nên lưu ý việc điều trị đầy đủ tình trạng mà có thể giảm thiểu các nguy cơ huyết khối và cũng nên lưu ý rằng nguy cơ huyết khối liên quan với thai kỳ cao hơn nguy cơ huyết khối liên quan với COCs liều thấp (< 0,05mg ethinylestradiol).
Khối u: Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư cổ tử cung là nhiễm HPV kéo dài. Một số nghiên cứu dịch tễ chỉ ra rằng quá trình sử dụng lâu dài COCs có thể góp phần tăng thêm nguy cơ này, nhưng vẫn tiếp tục có những ý kiến trái ngược nhau về các kết quả này do các yếu tố gây nhiễu như tầm soát cổ tử cung và hành vi tình dục, sử dụng biện pháp tránh thai màng chắn.
Tổng phân tích từ 54 nghiên cứu dịch tễ báo cáo rằng có một chút tăng nhẹ nguy cơ tương đối của ung thư vú (RR = 1,24) trong những phụ nữ hiện đang sử dụng COCs. Nguy cơ quá mức dần dần biến mất trong thời gian 10 năm sau khi ngừng sử dụng COCs. Bởi vì ung thư vú là rất hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, số lượng ung thư quá mức được chẩn đoán ở những người gần đây và đang sử dụng COCs là nhỏ so với nguy cơ ung thư vú nói chung. Các nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về nguyên nhân. Cách ghi nhận tăng nguy cơ ung thư vú có thể do ở những người sử dụng COC được chẩn đoán sớm hơn, hoặc do các tác dụng sinh học của COCs hoặc kết hợp cả hai. Các chẩn đoán ung thư vú ở những người đã từng sử dụng COC có xu hướng ít tiến triển trên lâm sàng hơn so với ung thư được chẩn đoán trên những người chưa từng dùng COC.
Trong các trường hợp hiếm gặp, u gan lành tính, hay thậm chí hiếm hơn nữa là các khối u gan ác tính, đã được báo cáo ở những người sử dụng COCs. Ở các trường hợp cá biệt, các khối u đã dẫn tới nguy hiểm tính mạng do xuất huyết trong ổ bụng. Khối u gan cần được chẩn đoán phân biệt khi đau thượng vị dữ dội, gan to hoặc có dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng ở những phụ nữ uống COCs.
Các khối u ác tính có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong.
Các tình trạng khác: Nguy cơ lý thuyết tăng kali máu có thể được giả định chỉ dành cho các bệnh nhân suy thận, những người trước khi điều trị kali huyết thanh là ở phía trên giá trị tham chiếu, và những người sử dụng thuốc lợi tiểu giữ kali.
Những phụ nữ triglyceride huyết tăng cao, hoặc có tiền sử gia đình về bệnh này, có thể gia tăng nguy cơ viêm tụy khi sử dụng COCs.
Tuy huyết áp tăng nhẹ đã được báo cáo trên những phụ nữ uống COCs, nhưng hiếm khi thấy sự gia tăng trên lâm sàng. Tuy vậy, nếu tăng huyết áp có ý nghĩa lâm sàng kéo dài trong khi dùng COC, thì bác sĩ cần thận trọng ngưng dùng COC và điều trị tăng huyết áp. Khi thích hợp, có thể dùng lại COC nếu có thể đạt được trị số huyết áp bình thường bằng điều trị tăng huyết áp.
Các bệnh sau đây được báo cáo xảy ra hoặc diễn tiến xấu đi trong khi có thai và người sử dụng COC, nhưng chưa có bằng chứng dứt khoát về sự kết hợp với sử dụng COC: bệnh vàng da, bệnh ngứa có liên quan tới tắc mật; sỏi mật; rối loạn chuyển hóa porphyrin, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng tăng ure huyết do tán huyết, múa giật Sydenham, Herpes sinh dục; giảm thính lực do xốp xơ tai.
Ở những phụ nữ phù mạch di truyền, estrogen ngoại sinh có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng phù mạch.
Các rối loạn chức năng gan cấp tính hoặc mạn tính đòi hỏi phải ngưng sử dụng COC cho tới khi các chức năng gan trở lại bình thường. Bệnh vàng da tắc mật đã xảy ra lần đầu trong 3 tháng đầu của thai kỳ hoặc trong khi sử dụng các steroid sinh dục trước đây đòi hỏi phải ngưng sử dụng COCs.
Mặc dù các COCs có thể ảnh hưởng tới sự đề kháng Insulin ngoại biên và dung nạp glucose, không có bằng chứng cho một cần thiết phải thay đổi phác đồ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường sử dụng COCs liều thấp (chứa < 0,05mg ethinylestradiol). Tuy nhiên những phụ nữ bị bệnh đái tháo đường nên được theo dõi cẩn thận khi dùng các COCs.
Bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại tràng có liên quan tới sử dụng COCs.
Nám da thỉnh thoảng có thể xảy ra, đặc biệt là ở những phụ nữ có tiền sử nám da khi có thai. Những phụ nữ có xu hướng nám da nên tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc bức xạ tia cực tím khi dùng COCs.
Thăm khám, tư vấn: Các phụ nữ nên được khuyến cáo rằng thuốc tránh thai đường uống không có tác dụng bảo vệ chống lại nhiễm HIV (AIDS) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Giảm hiệu quả: Hiệu quả của COCs có thể bị giảm trong các trường hợp như quên uống các viên nén bao phim màu hồng sáng có chứa hormon, rối loạn tiêu hóa (phần "Các tư vấn trong trường hợp rối loạn tiêu hóa") trong quá trình uống viên nén bao phim màu hồng sáng hay uống các thuốc khác có tương tác với (phần "Tương tác").
Giảm kiểm soát chu kỳ: Với tất cả các COCs, có thể xảy ra chảy máu bất thường (rỉ máu, chảy máu giữa chu kỳ), đặc biệt là trong những tháng đầu sử dụng.
Ở một số phụ nữ có thể không ra kinh khi uống các viên nén bao phim màu trắng không có hormon. Nếu COC được sử dụng theo đúng các mô tả trong phần "Liều lượng và Cách dùng" thì ít có khả năng người phụ nữ mang thai. Tuy nhiên nếu COC không được dùng đúng theo các hướng dẫn trước thời điểm trễ kinh hoặc có 2 đợt không thấy ra huyết, cần loại trừ có thai trước khi tiếp tục dùng COC.
Tác dụng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc: Không có nghiên cứu nào về ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện. Không có ảnh hưởng nào tới khả năng lái xe và vận hành máy móc đã quan sát được ở những người sử dụng COCs.

Quá Liều

Chưa có bất cứ kinh nghiệm lâm sàng nào về việc quá liều viên nén màu hồng sáng có chứa hormon Yaz. Trên cơ sở kinh nghiệm chung của các thuốc tránh thai đường uống dạng kết hợp, các triệu chứng có thể xảy ra trong trường hợp dùng quá liều viên chứa hormon là: buồn nôn, nôn, và ở các phụ nữ trẻ là chảy máu âm đạo nhẹ. Không có thuốc giải độc và nên điều trị thêm các triệu chứng.

Chống chỉ định

Viên uống tránh thai kết hợp (COCs) không nên được sử dụng khi xuất hiện bất cứ điều nào được liệt kê dưới đây. Nếu có bất kỳ bệnh lý nào dưới đây trong khi dùng viên tránh thai, ngừng ngay lập tức:
- Đang mắc hoặc có tiền sử huyết khối/huyết khối tắc mạch của động mạch hoặc tĩnh mạch (ví dụ như huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não).
- Đang mắc hoặc có tiền sử tiền triệu chứng huyết khối (ví dụ như cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, chứng đau thắt ngực).
- Có nguy cơ cao của huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch (xem phần "Cảnh báo").
- Tiền sử đau nửa đầu với các triệu chứng thần kinh khu trú.
- Tiểu đường có tổn thương mạch máu.
- Bệnh gan nặng hay các thông số chức năng gan không về mức bình thường.
- Suy thận nặng hoặc suy thận cấp.
- Đang mắc hoặc tiền sử có u gan (lành tính hay ác tính).
- Được biết hoặc nghi ngờ có bệnh ác tính ảnh hưởng các steroid sinh dục (như ở cơ quan sinh dục hoặc vú).
- Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân.
- Được biết hoặc nghi ngờ có thai.
- Mẫn cảm với dược chất hoặc bất kỳ tá dược nào.

Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú

• Phụ nữ có thai: Yaz không được chỉ định trong thời gian mang thai. Nếu mang thai xảy ra trong quá trình sử dụng Yaz, phải ngừng thuốc ngay. Tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ trên diện rộng cho thấy không có sự gia tăng dị tật bẩm sinh ở trẻ em được sinh ra ở những phụ nữ sử dụng COCs trước khi mang thai và cũng không có tác dụng sinh quái thai khi COCs được sử dụng một cách tình cờ trong giai đoạn đầu của mang thai.
Các dữ liệu hiện tại về việc sử dụng Yaz trong thời kỳ mang thai rất hạn chế để cho phép kết luận về tác dụng bất lợi của Yaz trong khi mang thai, sức khỏe của bào thai và trẻ sơ sinh. Không có các dữ liệu dịch tễ học liên quan có giá trị.
• Cho con bú: Cho con bú có thể bị ảnh hưởng bởi COCs do chúng làm giảm số lượng và thay đổi các thành phần của sữa mẹ. Bởi vậy việc sử dụng COCs thường không được khuyến cáo cho tới khi người mẹ đã hoàn toàn cai sữa cho trẻ. Một số lượng nhỏ các steroid tránh thai và/hoặc các chất chuyển hóa của nó có thể được bài tiết vào sữa.

Tương tác

Tác dụng của các thuốc khác lên Yaz: Tương tác có thể xảy ra với những thuốc gây cảm ứng các enzyme microsome mà có thể làm tăng độ thanh thải các hormone sinh dục và điều này có thể dẫn đến chảy máu giữa chu kỳ hoặc việc tránh thai thất bại. Những phụ nữ đang điều trị với bất kỳ các loại thuốc ở trên nên sử dụng thêm phương pháp màng chắn cùng với COC hoặc chọn phương pháp tránh thai khác. Phương pháp màng chắn nên được sử dụng trong suốt thời gian dùng thuốc và kéo dài thêm trong 28 ngày sau khi ngưng. Nếu trong giai đoạn phương pháp màng chắn được sử dụng quá khi viên nén bao phim màu hồng sáng chứa hormon cuối cùng kết thúc, viên nén bao phim màu trắng không có hormon nên được bỏ qua, vỉ COC tiếp theo được bắt đầu mà không có thời gian tạm nghỉ.
Các chất làm tăng độ thanh thải của các COC (làm giảm hiệu quả của các COC bằng các chất gây cảm ứng enzyme), ví dụ: phenytoin, barbiturates, primidone, carbamazepine, rifampicin, và cũng có thể là oxcarbazepine, topiramate, felbamate, griseofulvin và các sản phẩm có chứa cỏ St John).
Các chất có tác động khác nhau lên độ thanh thải các COC, ví dụ:
Khi dùng cùng với các COC, nhiều thuốc ức chế protease HIV/HCV và thuốc ức chế sao chép ngược không phải nucleoside có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ huyết tương của estrogen hoặc progestin.
Những thay đổi này có thể có liên quan về mặt lâm sàng trong một vài trường hợp.
Các chất làm giảm độ thanh thải của các COC (các men ức chế): Chất ức chế CYP3A4 mạnh và trung bình như kháng nấm azole (ví dụ: itraconazole, voriconazole, fluconazole), verapamil, macrolides (ví dụ: clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước bưởi có thể làm tăng nồng độ huyết tương của estrogen hoặc progestin hoặc cả hai.
Trong một nghiên cứu đa liều sử dụng dạng phối hợp drospirenone (3mg/ngày)/ethinylestradiol (0,02mg/ngày), dùng cùng chất ức chế CYP3A4 mạnh ketoconazole trong 10 ngày đã làm tăng AUC(0-24giờ) của drospirenone và ethinylestradiol tương ứng gấp 2,68 lần (90%CI: 2,44; 2,95) và 1,4 lần (90%CI: 1,31; 1,49).
Liều Etoricoxib 60 đến 120mg/ngày cho thấy làm tăng tương ứng nồng độ huyết tương của ethinylestradiol gấp 1,4 đến 1,6 lần khi uống cùng một thuốc tránh thai hormon dạng kết hợp có chứa 0,035mg ethinylestradiol.
Tác dụng của COCs trên các thuốc khác: Thuốc tránh thai đường uống có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của một số thuốc khác. Theo đó, nồng độ trong huyết tương và các mô có thể tăng lên (như cyclosporin) hoặc giảm đi (như lamotrigine).
Trên invitro, drospirenone có khả năng hạn chế từ yếu đến trung bình men cytochrome P450 CYP1A1, CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4.
Dựa trên tương tác invivo trên các tình nguyện viên nữ sử dụng omeprazole, simvastatin và midazolam như là chất mang dấu ấn, một tương tác có liên quan về mặt lâm sàng của Drospirenone ở liều 3mg với chuyển hóa gián tiếp thông qua cytochrome P450 của các thuốc khác là hầu như không có.
Trên invitro, ethinylestradiol là một chất ức chế ngược của CYP2C19, CYP1A1 và CYP1A2 cũng như là một chất dựa trên cơ chế của CYP3A4/5, CYP2C8, và CYP2J2. Trong các nghiên cứu lâm sàng, việc dùng thuốc tránh thai hormon có chứa ethinylestradiol không dẫn đến bất kỳ việc tăng hoặc chỉ tăng 1 tuần nồng độ trong huyết tương của CYP3A4 (ví dụ midazolam) trong khi nồng độ trong huyết tương của CYP1A2 có thể tăng yếu (ví dụ theophylline) hoặc trung bình (ví dụ melatonin và tizanidine).
Các dạng tương tác khác
Kali huyết thanh: Có một khả năng về mặt lý thuyết làm tăng kali huyết thanh ở những phụ nữ dùng những viên nén bao phim màu hồng sáng Yaz có chứa hormon với các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh.
Các xét nghiệm: Việc sử dụng các steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến nhiều kết quả xét nghiệm. Drospirenone là nguyên nhân tăng hoạt động của renin huyết thanh và aldosterone huyết tương tạo ra do tác dụng chống giữ muối nước nhẹ.

Tác dụng ngoại ý

• Tóm tắt tính an toàn của sản phẩm: Các tác dụng không mong muốn (ADR) hay được ghi nhận nhất khi dùng Yaz làm thuốc uống tránh thai hoặc để điều trị trứng cá mức độ vừa ở những phụ nữ lựa chọn thuốc uống tránh thai bao gồm buồn nôn, đau vú, chảy máu tử cung bất thường và chảy máu đường sinh dục không xác định. Tỉ lệ ghi nhận là ≥ 3% người dùng thuốc.
Các các dụng không mong muốn nghiêm trọng là huyết khối thuyên tắc động và tĩnh mạch.
• Bảng tóm tắt các tác dụng không mong muốn: Tần suất ADR được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng với Yaz và Yaz Plus sử dụng làm thuốc uống tránh thai và Yaz trong điều trị trứng cá mức độ vừa ở những phụ nữ lựa chọn sử dụng thuốc uống tránh thai (N=3565) được tóm tắt trong bảng dưới đây. Trong từng nhóm phân theo tần xuất, các ADR được sắp xếp theo mức độ nghiêm trọng giảm dần. Tần xuất được phân loại thành hay gặp (≥1/100 tới <1/10), ít gặp (≥1/1,000 tới <1/100) và hiếm gặp (≥1/10,000 tới <1/1000). Các ADR chỉ được ghi nhận trong các nghiên cứu sau khi lưu hành trên thị trường hoặc không xác định được tần xuất được ghi là "không rõ"

Biến cố có hại trong các thử nghiệm lâm sàng được mã hóa theo MedDRA. Những cụm từ khác với MedDRA, mô tả cùng một hiện tượng được nhóm vào cùng một ADR để tránh làm loãng hoặc nhiễu tác dụng thực tế.
Về biến cố huyết khối thuyên tắc động và tĩnh mạch và đau nửa đầu, xem thêm trong mục “Chống chỉ định”, “Cảnh báo”.
 Mô tả một số ADR: Các ADR có tần xuất rất thấp hoặc khởi phát muộn được cho là có liên quan đến một số COC được mô tả dưới đây:
Các khối u
- Tần suất được chẩn đoán ung thư vú tăng nhẹ ở những người dùng thuốc uống tránh thai. Vì ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, nên nguy cơ là rất thấp. Mối liên quan với COC chưa được xác định.
- U gan (lành tính và ác tính)
Các trường hợp khác
- Hồng ban nút (Erythema nodosum)
- Phụ nữ bị tăng triglycerid máu (tăng nguy cơ bị viêm tụy cấp khi dùng COC)
- Tăng huyết áp
- Mối liên quan của các trường hợp sau đây (mới xảy ra hoặc trầm trọng thêm) với việc sử dụng COC chưa được kết luận: vàng da và/hoặc ngứa liên quan đến tắc mật, tạo sỏi mật, rối loạn porphyrin, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng tan máu ure huyết, chứng múa giật Sydenham; mụn rộp sinh dục; điếc liên quan đến xơ cứng tai
- Ở những phụ nữ bị phù mạch mang tính di truyền, dùng estrogen ngoại sinh có thể gây ra hoặc là bùng phát các triệu chứng của phù mạch.
- Rối loạn chức năng gan
- Thay đổi khả năng dung nạp glucose hoặc ảnh hưởng đến tính kháng insulin ngoại vi.
- Bệnh Crohn's, viêm loét đại tràng.
- Chứng nám da
- Quá mẫn cảm (bao gồm các triệu chứng như ban, mày đay).
Tương tác: Chảy máu bất thường và/hoặc thất bại trong tránh thai có thể là hậu quả của tương tác giữa các thuốc dùng đồng thời (các thuốc cảm ứng enzym gan) và các thuốc uống tránh thai (xem phần "Tương tác").

Bảo quản

Bảo quản dưới 30oC.

Phân loại ATC

G03AA12 - drospirenone and ethinylestradiol 

Trình bày/Đóng gói

Viên nén bao phim: hộp 1 vỉ x 28 viên.

A